1. Tâm trạng khi chia tay của kẻ ở người đi (8 câu đầu)
1.1. 4 câu thơ đầu
Thơ là sự giãi bày đời sống tình cảm, "là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi đụng chạm đến cuộc sống" (Nguyễn Đình Thi). Tình cảm ấy là những trạng thái cảm xúc mà người nghệ sĩ từng trải qua, từng sống trong những cung bậc ấy. Thơ không chấp nhận thứ tình cảm hời hợt, mờ nhạt. Nếu nhà thơ không viết thơ bằng nước mắt, bằng máu của chính mình, không sắc với những tình cảm của con người thì thơ sẽ thiếu sức sống, chỉ có thể làm được những vần thơ vô hồn, chỉ là những câu chữ hoa mĩ được ép khô trên giấy.
Tố Hữu đã viết "Việt Bức" bằng cảm xúc bâng khuâng, da diết khi phải chia tay đồng bào Việt Bắc với biết bao kỉ niệm ngọt bùi khó quên của một thời gắn bó. Hình thức là đối đáp giữa kẻ ở - người đi nhưng thực chất là lời độc thoại nội tâm, đắm mình trong hoài niệm quá khứ của tác giả.
Trong cuộc chia tay giữa đồng bào Việt Bắc với những người chiến sĩ Cách mạng về xuôi, người ở lại là những người lên tiếng trước bởi họ đã nhạy cảm nhận ra sự thay đổi của hoàn cảnh nên bồn chồn, lo lắng không yên. Trong âm hưởng ngọt ngào của ca dao, những câu hỏi của người ở lại cất lên như chất chứa bao nỗi niềm vấn vương, lưu luyến.
"Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng"
"Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn"
Mười lăm năm gợi ra hành trình từ những ngày đầu Cách Mạng với cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940 và sự kiện năm 1941, sau những năm bôn ba khắp năm châu bốn bể tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã trở về Tổ Quốc, người chọn Việt Bắc làm căn cứ địa Cách mạng:
"Ôi sáng xuân nay, xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về. Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ"
Nhà thơ đã sử dụng sáng tạo hai đại từ "mình - ta" vốn là cách xưng hô lứa đôi quen thuộc trong ca dao với biết bao tình cảm thương dạt dào:
"Mình về có nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười"
hay
"Mình về ta chẳng cho về
Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ"
Tố Hữu đã mượn hình thức quen thuộc của văn học dân gian để thể hiện một vấn đề có tính chất lịch sử. Từ những câu ca ngọt ngào của tình yêu đã trở thành "khúc tâm tình" của kẻ ở - người đi, từ cách xưng hô lứa đôi trở thành tiếng gọi thân thương của những người đồng chí đồng bào khiến cho tình cảm trở nên đẹp đẽ, gắn bó.
Với biện pháp điệp ngữ "mình có nhớ ta", "mình có nhớ không" đã tạo nên giọng thơ đầy lưu luyến, thể hiện sự day dứt, bịn rịn, băn khoăn của người ở lại và cả nỗi lo sợ người ra đi sẽ không giữ được tình cảm thủy chung với Việt Bắc. Đó đồng thời là lời nhắn nhủ với người ra đi đừng bao giờ quên quê hương nghĩa tình Cách mạng với những kỷ niệm mặn nồng keo sơn.
"Mười lăm năm ấy ai quên
Quê hương Cách mạng dựng nên Cộng hòa"
Sau những câu hỏi ấy, người ở lại đã khơi gợi những kỷ niệm khó quên ở Việt Bắc với thời gian "mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng". Mười lăm năm ấy đủ đong đầy bao nghĩa tình sâu nặng như phảng phất âm hưởng của thơ Kiều:
"Những là rày ước mai ao
Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình."
Đó là khoảng thời gian "Từ khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh", là những ngày tháng mà đồng bào Việt Bắc đã cưu mang cán bộ. Họ đã từng gian khổ có nhau, đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, thủy chung gắn bó. Mười lăm năm vào sinh ra tử với biết bao kỷ niệm chiến đấu, bao ân tình đằm thắm khó quên.
Không chỉ nhớ về thời gian, người ở lại như muốn người ra đi nhớ về không gian Việt Bắc, thủ đô gió ngàn, căn cứ địa Cách mạng "nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn". "Nhớ núi, nhớ nguồn" là nhớ về khung cảnh thiên nhiên, nhớ về quê hương Cách mạng, ngọn nguồn của Cách mạng, đó không chỉ là không gian vô hồn mà đã trở nên rất đỗi quen thân quen, in dấu từng bước chân, lưu giữ bao kỷ niệm. Câu thơ vừa có tình cảm lưu luyến, hụt hẫng trong lòng người ở lại vừa như lời dặn dò kín đáo với người ra đi đừng quên đạo lý "uống nước nhớ nguồn".
"Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay
Ra sông nhớ suối, có ngày nhớ đêm".
1.2. 4 câu thơ sau
"Thơ là điệu hồn đi tìm những hồn đồng điệu", là tiếng nói đồng vọng của những trái tim, những tâm hồn tri âm. Nhà thơ Tố Hữu như đã thấu cảm được sự đồng vọng tha thiết của kẻ ở - người đi qua kết cấu đối đáp ngọt ngào, ân tình. Sau những câu hỏi của người ở lại, người ra đi chỉ im lặng lắng nghe, chỉ biết cầm tay nghẹn ngào không nói nên lời:
"Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi."
Đại từ phiếm chỉ "ai" gợi ra bao nhiêu cảm xúc, "ai" nghĩa rằng không biết rõ ai đang tha thiết, nó hiển hiện trong mỗi con người ở lại, của cả nhân dân Việt Bắc chứ không của một cá nhân nào. Tiếng dân cứ tha thiết gợi về biết bao bịn rịn, để rồi người ra đi cứ "bâng khuâng trong dạ", chân bước đi mà lòng cứ bồn chồn không yên, đau đáu nhìn lại. Hai từ láy "bâng khuâng", "bồn chồn" không chỉ tạo ra tính nhạc cho lời thơ mà còn diễn tả tâm trạng luyến tiếc, nhớ thương, ngập ngừng, bịn rịn, không thể chia tay, không thể dứt khoát để về xuôi.
Giữa khung cảnh buổi chia tay, nếu "tiếng ai" là âm thanh mơ hồ, là tiếng vọng trong tâm tưởng, thì hình ảnh "áo chàm" lại thật cụ thể, không thể xóa nhòa trong tâm tưởng người ra đi.
"Áo chàm đưa buổi phân ly
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay"
"Áo chàm" là hoán dụ cho nhân dân Việt Bắc, bởi đây là trang phục dân tộc quen thuộc nơi vùng cao. Áo chàm là màu áo bền bỉ, khó phai, bình dị, đơn sơ, mộc mạc của một vùng quê nghèo khổ mà nghĩa tình. Đây là màu áo đặc trưng của người dân Việt Bắc, những con người tuy vất vả lam lũ nhưng vẫn một lòng sắt son với cách mạng và kháng chiến. Với hình ảnh áo chàm, nhà thơ đã gợi lên hình ảnh của toàn thể những người dân Việt Bắc có mặt trong buổi tiễn biệt người chiến sĩ Cách mạng về xuôi.
Có biết bao nỗi niềm, cảm xúc nhưng người ra đi lại chẳng "biết nói gì hôm nay". Họ im lặng khi mọi lời đều bất lực, khi có rất nhiều điều muốn nói nhưng lại không thể nói hết, nói trọn vẹn những nỗi niềm đang trào dâng mãnh liệt. Người ra đi im lặng bởi xúc động, nghẹn ngào không nói nên lời, bởi sự bâng khuâng bịn rịn. Và hơn hết, họ im lặng để tri ân, thấu hiểu, để lời người ở lại ngân vang và thấm sâu vào tâm hồn.
Câu thơ cuối được ngắt nhịp 3/3/2 diễn tả sự ngập ngừng, lưu luyến lúc chia tay. Và cả tình cảm người ra đi gửi gắm qua hành động "cầm tay". Cái cầm tay không rời nói lại chất chứa bao nhiêu điều muốn nói. Trong bài thơ "Đồng chí", nhà thơ Chính Hữu đã từng viết "Thương nhau tay nắm lấy bàn tay". Đó là những hành động đã trở thành ngôn ngữ giao tiếp đặc biệt, thể hiện những cảm xúc trong lòng người. Cái cầm tay của người ra đi đã khẳng định tình cảm mãi thủy chung với Việt Bắc vừa để củng cố niềm tin cho người ở lại, động viên tinh thần giúp họ vượt lên hoàn cảnh. Cầm tay bởi sự vấn vương, xúc động khó dứt, và dường như đó là hành động thay cho lời tạm biệt, thay cho lời hứa sẽ mãi bền lòng, vững tâm với vùng đất và con người nơi đây. Trong bài thơ "Hơi ấm bàn tay", Lưu Quang Vũ đã có những câu thơ rất tình:
"Điều chưa nói thì bàn tay đã nói
Mình đi rồi hơi ấm còn ở lại
Còn bồi hồi trong những ngón tay ta".
Phút cầm tay của tình quân dân hay tình yêu đôi lứa, dù thế nào cũng là những phút giây để nhớ thương:
"Khi cách nhau hàng vạn dặm không gian
Anh mới hiểu khoảng cách không đáng sợ
Anh thấy em bên mình, như nghe từng nhịp thở".
Tin rằng, với "mình" và "ta", họ cũng thấy nhau bên mình, "nghe từng nhịp thở", bởi hồi ức mười lăm năm chẳng ít ỏi để lãng quên, huống chi là hồi ức về những tháng ngày kiêu hùng của dân tộc. Mượn thơ tình của Lưu Quang Vũ để nói về thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu thật không cân xứng, nhưng trữ tình trong tình thương giữa con người với người, với tình yêu, cũng cùng những cung bậc gần biết mấy!
Nếu những câu thơ đầu hiện lên với từ "tha thiết", thì đến đây ta lại nghe "tha thiết", cảm xúc của kẻ ở người đi dành cho nhau quyện hòa nồng thắm. Nhà thơ đã sử dụng thật tinh tế hệ thống từ láy dồn dập, làm nổi bật những cảm xúc đang dâng trào.
Đọc tám câu thơ của Tố Hữu, cảm nhận "buổi phân li" thắm đượm ân tình, ta bỗng nhớ đến câu thơ trong cảnh Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều:
"Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san"
Cuộc phân ly nào cũng buồn da diết đến thế, nhưng tình người, tình yêu vẫn thắm đượm đong đầy.
2. Tính dân tộc trong 8 câu thơ đầu
Về nội dung, hiện thực đời sống cách mạng, những tình cảm chính trị, đạo lý cách mạng qua cảm nhận của Tố Hữu đã hòa nhập, gắn bó với truyền thống tinh thần, tình cảm, đạo lý của dân tộc và làm phong phú hơn truyền thống ấy.
Về nghệ thuật, thơ Tố Hữu nghiêng về tính truyền thống hơn khuynh hướng hiện đại, đổi mới. Thi nhân đã đặc biệt thành công trong thể thơ dân tộc, cụ thể là thể thơ lục bát. Ông cũng thường sử dụng những lối nói, cách diễn đạt, những phương thức quen thuộc của thơ ca dân gian. Thơ Tố Hữu xuất hiện những ngôn từ giản dị, thi liệu truyền thống, những từ láy, phối hợp âm thanh, vần,... tạo ra tính nhạc để thể hiện cảm xúc dân tộc, tâm hồn dân tộc.
Trên đây là bài phân tích 8 câu thơ đầu trong bài thơ Việt Bắc cũng như tính dân tộc được thể hiện qua 8 câu thơ. Hy vọng bài viết sẽ giúp ích cho độc giả. Xin trân trọng cảm ơn!