1. Vai trò của pháp luật đối với nhà nước và xã hội ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp và cho ví dụ về vai trò của pháp luật về:
- Pháp luật là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước ?
- Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội ?
- Pháp luật góp phần tạo dựng những quan hệ mới ?
- Pháp luật tạo ra môi trường ổn định trong việc thiết lập các mối quan hệ giao ban giữa các quốc gia ?
Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư!
Người gửi: Thanh Nhàn

>> Luật sư tư vấn pháp luật hành chính qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, câu hỏi của bạn Luật Minh Khuê xin trả lời như sau:

1. Pháp luật là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước ?

Một trong những nguyên lý, đã được khẳng định là quốc gia chẳng thể tồn tại thiếu pháp luật và luật pháp không thể phát huy hiệu lực của mình nếu không có sức mạnh của bộ máy quốc gia. Trong khoa học có những quan điểm nhấn mạnh ý nghĩa tuyệt đối của quyền lực nhà nước, coi đó là cái nảy sinh cái thứ nhất, còn pháp luật chỉ là cái phái sinh (cái thứ hai); hoặc coi pháp luật đứng trên quốc gia, quốc gia phải tuyệt đối phục tùng luật pháp... Là chưa có cơ sở xứng đáng vị:

Thứ nhất, đúng là pháp luật do nhà nước ban hành, nhưng luật pháp không phải chỉ là kết quả của tư duy chủ quan một cách đơn thuần, mà nó còn xuất phát từ những nhu cầu khách quan của tầng lớp. Luật pháp chỉ có thể đi vào cuộc sống nếu như nó hiệp với trình độ phát triển kinh tế tầng lớp.

Thứ hai, pháp luật cũng còn cần có quyền lực quốc gia bảo đảm mới có thể phát huy tác dụng trong thực tại đời sống. Do vậy nói pháp luật đứng trên nhà nước là không thực tại.

Thứ ba, nhu cầu về luật pháp còn là nhu cầu tự thân của bộ máy quốc gia. Bộ máy nhà nước là một thiết chế phức tạp bao gồm nhiều bộ phận (nhiều loại cơ quan quốc gia). Để bộ máy đó hoạt động có hiệu quả đòi hỏi phải xác định đúng chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi loại cơ quan, mỗi cơ quan; phải xác lập mối quan hệ đúng đắn giữa chúng; phải có những phương pháp tổ chức và hoạt động thích hợp để tạo ra một cơ chế đồng bộ trong quá trình thiết lập và thực thi quyền lực quốc gia. Tất những điều đó chỉ có thể thực hành được khi dựa trên cơ sở vững chắc của những nguyên tắc và quy định cụ thể của luật pháp.

Thực tế cho thấy khi chưa có một hệ thống quy phạm luật pháp về tổ chức đầy đủ, đồng bộ, hiệp và chính xác để làm cơ sở cho việc củng cố và hoàn thiện bộ máy quốc gia thì dễ dẫn đến tình trạng trùng, chồng chéo, thực hành khống đúng chức năng, thẩm quyền của một số cơ quan quốc gia, bộ máy sẽ sinh ra cồng kềnh và kém hiệu quả.

Na ná như trên, pháp luật có vai trò quan yếu trong việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi loại cán bộ, mỗi cán bộ làm việc trong từng cơ quan cụ thể của bộ máy quốc gia. Nhờ có luật pháp, các hiện tượng lạm quyền, bao biện, vô trách nhiệm... Của hàng ngũ viên chức nhà nước dễ dàng được phát hiện và loại trừ.

2. Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội ?

Quốc gia là đại diện chính thức của toàn thể từng lớp, Vì vậy nhà nước có chức năng (nhiệm vụ) quản lý toàn tầng lớp.

Để quản lý toàn tầng lớp, nhà nước dùng nhiều dụng cụ, nhiều biện pháp, nhưng luật pháp là công cụ quan yếu nhất. Với những đặc điểm riêng của mình, luật pháp có khả năng triển khai những chủ trương, chính sách của nhà nước một cách nhanh nhất, đồng bộ và có hiệu quả nhất trên quy mô rộng lớn nhất. Cũng nhờ có luật pháp, quốc gia có cơ sở để phát huy quyền lực của mình và rà, kiểm soát các hoạt động của các tổ chức, các cơ quan, các viên chức nhà nước và mọi công dân.

Trong tổ chức và quản lý kinh tế, pháp luật lại càng có vai trò lớn. Bởi, chức năng tổ chức và quản lý kinh tế của quốc gia có phạm vi rộng và phức tạp, bao gồm nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ mà nhà nước cần xác lập, điều hành và kiểm soát như hoạch định chính sách kinh tế, xác định chỉ tiêu kế hoạch, quy định các chế độ tài chính, tiền tệ, giá... Thảy quá trình tổ chức và quản lý đều đòi hỏi sự hoạt động tích cực của quốc gia nhằm tạo ra một cơ chế đồng bộ, xúc tiến quá trình phát triển đúng hướng của nền kinh tế và mang lại hiệu quả thiết thực.

Do thuộc tính phức tạp và khuôn khổ rộng của chức năng quản lý kinh tế, nhà nước không thể trực tiếp tham dự vào các hoạt động kinh tế cụ thể mà chỉ thực hiện việc quản lý ở tầm vĩ mô và mang thuộc tính hành chính - kinh tế. Quá trình quản lý kinh tế không thể thực hành được nếu không dựa vào pháp luật.

Chỉ trên cơ sở một hệ thống văn bản luật pháp kinh tế đầy đủ, đồng bộ, hiệp với thực tiễn (điều kiện và trình độ phát triển của kinh tế xã hội) và kịp thời trong mỗi thời kỳ cụ thể, quốc gia mới có thể phát huy được hiệu lực của mình trong lĩnh vực tổ chức và quản lý kinh tế, xã hội.

3. Pháp luật góp phần tạo dựng những quan hệ mới ?

Bên cạnh chức năng đề đạt, luật pháp còn có tính tiên phong, định hướng cho sự phát triển của các quan hệ từng lớp. Có thể nói, luật pháp có vai trò quan trọng trong việc tạo dựng (lập) nên những quan hệ mới.

Trên cơ sở xác định thực trạng từng lớp với những tình huống (sự kiện) cụ thể, tiêu biểu, tồn tại và tái diễn bộc trực ở những thời khắc cụ thể trong tầng lớp, nhà nước đề ra pháp luật để điều chỉnh kịp thời và hiệp. Nhưng cuộc sống vốn sống động và thực tế thường diễn ra với những đổi thay thẳng tuột. Tuy nhiên, về cơ bản những đổi thay đó vẫn diễn ra theo những quy luật nhất thiết mà con người có thể nhận thức được.

Dựa trên cơ sở của những kết quả và dự báo khoa học, người ta có thể dự định được những đổi thay có thể diễn ra với những tình huống (sự kiện) cụ thể, điển hình cần có sự điều chỉnh bằng luật pháp. Từ đó luật pháp được đặt ra để định hướng trước, xác lập những quy định và có thể thiết kế những mô hình tổ chức quy định chức năng nhiệm vụ và tổ chức thí nghiệm...

Tuy vậy, pháp luật bao giờ cũng có sự ổn định tương đối. Sự hình thành mới hoặc thay đổi thường chỉ diễn ra với từng bộ phận của hệ thống pháp luật, ít có những đột biến toàn phần trong một thời kì ngắn. Tính định hướng của luật pháp cũng theo quy luật đó. Hệ thống quy phạm định hướng chỉ là một bộ phận nhất định của hệ thống pháp luật thực định của mỗi nhà nước.

Sự phối hợp hài hòa giữa tính cụ thể của luật pháp với tính tiền phong (định hướng) của nó có một ý nghĩa rất quan yếu là tạo ra được sự ổn định và phát triển, kế thừa và đổi mới trực tính, làm cho luật pháp năng động, hiệp hơn, tiến bộ hơn.

4. Pháp luật tạo ra môi trường ổn định trong việc thiết lập các mối quan hệ giao ban giữa các quốc gia ?

Có một thực tiễn là tiện chế chính trị có thể đổi thay, tức là quyền lực của một bộ máy quốc gia trong một thời kỳ lịch sử nhất mực có thể đổi thay, nhưng nhân dân và quyền lực quần chúng vẫn tồn tại và phát triển. Những quan hệ đa chiều trong xã hội vẫn phát triển và đòi hỏi phải được điều chỉnh bằng pháp luật để bảo đảm sự ổn định thứ tự. Bởi thế, quyền lực dân chúng là vấn đề căn bản; trật tự từng lớp là đòi hỏi khách quan và những nhu cầu về luật pháp là xoành xoạch có.

Luật pháp và nhà nước luôn có quan hệ khăng khít với nhau “như hình với bóng”. Nhưng đó là nói ở góc độ chung. Khi tiếp cận ở giác độ cụ thể, luật pháp có những nét riêng cơ bản. Đó là khi luật pháp phản ánh đúng những lợi. Của dân tộc, của quần chúng thì dù chế độ nhà nước nào cũng phải trọng. Nếu đi trái lại điều đó là ngược với lợi. Của dân tộc, của nhân dân và sẽ bị nhân dân phản đối, không coi trọng, không chấp hành. Xét ở góc độ này, luật pháp còn có vai trò giữ gìn sự ổn định và thứ tự xã hội.

Sự ổn định của mỗi nhà nước là điều kiện quan trọng để tạo ra niềm tin, là cơ sở để mở mang các mối bang giao với các nước khác. Trong thời đại ngày nay, phạm vi của các mối quan hệ bang giao giữa các nước càng ngày càng lớn và nội dung thuộc tính của các quan hệ đó càng ngày càng đa diện (nhiều mặt). Cơ sở cho việc thiết lập và củng cố các mối quan hệ bang giao đó là pháp luật (luật pháp quốc tế và pháp luật nhà nước). Khởi hành từ nhu cầu đó, hệ thống luật pháp của mỗi nước cũng có bước phát triển mới: Bên cạnh những văn bản luật pháp quy định và điều chỉnh các quan hệ tầng lớp có liên quan đến các chủ thể luật pháp trong nước còn cần có đầy đủ các văn bản pháp luật quy định và điều chỉnh các quan hệ có nhân tố nước ngoài, dụ, luật đầu tư, luật về khoa học, và công nghệ...

Cũng cần nhấn mạnh rằng, muốn có môi trường từng lớp ổn định để mở mang các mối bang giao và hiệp tác thì chẳng thể chỉ để ý ''một mảng'' của hệ thống luật pháp của một quốc gia, mà phải để ý tới sự đồng bộ của cả hệ thống luật pháp của quốc gia đó. Bởi, hệ thống pháp luật của mỗi nhà nước là một chỉnh thể, mỗi bộ phận (mỗi mảng) trong hệ thống pháp luật đó không thể tồn tại và phát triển riêng biệt, cục bộ được mà luôn có quan hệ và tác động qua lại với các bộ phận khác.

Như vậy muốn thực hành tốt sự quản lý quốc gia, đẩy nhanh sự phát triển của xã hội, mở rộng quan hệ và cộng tác với các nước thì phải chú trọng phát huy vai trò của luật pháp, phải mau chóng xây dựng một hệ thống pháp luật toàn diện, đầy đủ và đồng bộ, thích hợp với những điều kiện và cảnh ngộ trong nước, đồng thời hợp với thiên hướng phát triển chung với tình hình quốc tế và khu vực.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý: Luật sư tranh tụng tại tòa án và đại diện ngoài tố tụng

>> Xem thêm:  Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 số 06/2012/QH13

2. Vai trò của pháp luật đối với phát triển ý thức đạo đức ?

Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó là phương tiện không thể thiếu bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội nói chung và của nền đạo đức nói riêng. Pháp luật không chỉ là một công cụ quản lý Nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hoá đời sống xã hội và góp phần bồi đắp nên những giá trị mới.

Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, việc tăng cường vai trò của pháp luật được đặt ra như một tất yếu khách quan. Điều đó không chỉ nhằm mục đích xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh, mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị chân chính, trong đó có ý thức đạo đức.

Trong quá trình phát triển lịch sử nhân loại, cùng với Nhà nước, pháp luật ra đời nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Bên cạnh đạo đức và dư luận xã hội, pháp luật là công cụ quản lý xã hội chủ yếu của Nhà nước.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Giữa đạo đức và pháp luật luôn có mối quan hệ qua lại, tác động tương hỗ lẫn nhau. Để nâng cao vai trò và phát triển ý thức đạo đức, ngoài các biện pháp tích cực khác, thì không thể thiếu vai trò của pháp luật và ý thức pháp quyển. Pháp luật càng chặt chẽ, càng đầy đủ và được thi hành nghiêm chỉnh thì đạo đức càng được đề cao, khả năng điều chỉnh và giáo dục của đạo đức càng được mở rộng và ảnh hưởng một cách toàn diện, tích cực đến mọi hành vi, mọi mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội.

Từ khi xuất hiện, pháp luật luôn gắn với giai cấp cầm quyền. Đối với xã hội có phân chia và đối kháng giai cấp, mọi hoạt động của đời sống xã hội được đưa vào trong khuôn khổ pháp luật nhằm mang lại lợi ích cho giai cấp thống trị. Trên thực tế, pháp luật của những Nhà nước gắn với giai cấp tiên tiến của thời đại thì thường phù hợp với xu hướng phát triển tiến bộ, vì nó bao hàm những chuẩn mực, những quy định nhằm bảo vệ lợi ích chân chính và phẩm giá con người. Ngược lại, nếu pháp luật của Nhà nước gắn với giai cấp đang suy tàn, không còn vai trò lịch sử thì thường chứa đựng yếu tố trì trệ, bảo thủ, đi ngược lại lợi ích chân chính. Trong trường hợp như vậy, pháp luật sẽ không phản ánh được những yêu cầu đạo đức tiến bộ, phù hợp với xu hướng phát triển khách quan của thời đại.

Trước đây, trong lịch sử, Nho giáo đã lấy đạo đức để răn dạy con người. Với chủ trương "đức trị", Nho giáo đã "đạo đức hoá chính trị” và đề cao, thậm chí đến mức tuyệt đối hoá việc quản lý xã hội bằng cách nêu gương, cảm hoá, làm cho dân chúng an tâm và từ đó, hy vọng tạo nên sự ổn đình xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những ảnh hưởng to lớn, tích cực đối với đời sống xã hội, Nho giáo cũng có những mặt hạn chế, tiêu cực và bảo thủ.

Đối lập với chủ trương "đức trị" là tư tưởng "pháp trị". Thực tế cho thấy, đã từng có những vị vua đùng pháp luật để cai trị đất nước. Với chủ trương "pháp trị", họ đã có những chính sách thiết thực, thưởng phạt phân minh, đưa xã hội đi vào cuộc sống có quy củ, vận hành theo khuôn khổ của phép nước. Tuy nhiên, cả tư tưởng "đức trị" và "pháp trị" thời phong kiến, bên cạnh mặt tích cực, đều có tính chất phiến diện. Thực ra, những tư tưởng ấy chỉ là những biện pháp khác nhau mà các thế lực thống trị sử dụng để củng cố địa vị và quyền lực của mình.

Trong xã hội không còn đối kháng giai cấp, Nhà nước là người đại điện cho nhân dân lao động. Cho nên, hoạt động của Nhà nước và hệ thống pháp luật tự thân đã bao hàm trong đó ý nghĩa đạo đức. Trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn, pháp luật luôn có vai trò bảo vệ các giá trị chân chính, bảo vệ các quyền lợi chính đáng của con người, đồng thời, tạo điều kiện cho con người phát huy những năng lực thực tiễn của mình. Việc thực thi pháp luật cũng đồng nghĩa với việc đảm bảo trên thực tế các quyền thiêng liêng của con người, sự tôn trọng các giá trị xã hội. Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thể hiện đúng đắn ý chí và nguyện vọng của số đông, phù hợp với xu thế vận động của lịch sử sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội. Do đó, pháp luật cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ nền đạo đức của xã hội. Có thể nói, pháp luật là phương tiện không thể thiếu được cho sự tồn tái bình thường của xã hội nói chung và nền đạo đức nói riêng. Bởi lẽ, "pháp luật bao giờ cũng là một trong những biện pháp để khẳng định một chuẩn mực đạo đức và biến nó thành thói quen. Chuẩn mực càng khó khẳng định bao nhiêu thì vai trò của pháp luật càng quan trọng bấy nhiêu. Vì vậy, không thể buông lỏng pháp luật nếu việc này chưa được chuẩn bị bằng sự tiến bộ đạo đức của xã hội".

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa hiện nay, yêu cầu đặt ra đối với pháp luật là phải tác động tích cực đến nền đạo đức của xã hội. Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường đòi hỏi mỗi cá nhân trong hoạt động của mình phải tính toán chặt chẽ những điều kiện khách quan và hiệu quả kinh tế. Khi đời sống kinh tế - xã hội đã và đang có những chuyển biến lớn, thì quan hệ giữa con người với con người không thể chỉ là "mối quan hệ trực tiếp, cảm tính, chủ yếu vẫn bị chi phối bởi những nguyên tắc và chuẩn mực của sự phát triển ưu trội về đạo đức” như trước đây, mà nó cần được bổ sung những chuẩn mực, những giá trị mới, như tính kinh tế, tính hiệu quả... Ngay cả việc đánh giá đạo đức cũng cần phải dựa trên các tiêu chí mới đó, ngoài các thước đo vốn có.

Đối với nước ta hiện nay, việc tăng cường vai trò của pháp luật, tạo môi trường thuận lợi cho sự hình thành và phát triển ý thức đạo đức đã trở thành một trong những yêu cầu cấp thiết. Quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng như xã hội dân sự... đòi hỏi phải tích cực hơn nữa trong việc đưa pháp luật vào đời sống, hình thành và phát triển ý thức pháp luật, đồng thời, xã hội hóa tri thức, nâng cao trình độ dân trí, tạo cơ sở nâng cao đạo đức lên trình độ duy lý pháp lý và khoa học, chuyển thói quen điều chỉnh xã hội theo “lệ”, chủ yếu là sự cảm thông sang điều chỉnh xã hội bằng pháp luật trên nguyên tắc công bằng và bình đẳng xã hội. Trong quan niệm về chuẩn giá trị và đánh giá đạo đức, tính khách quan, khoa học và duy lý thay cho sự tuỳ tiện vấn dựa trên cơ sở kinh nghiệm, duy cảm, duy tình. Sự điều chỉnh xã hội bằng pháp luật (với nguyên tắc tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật) làm cho mọi thành viên trong xã hội có thể tự do phát huy khả năng sáng tạo của mình trong môi trường lành mạnh - môi trường vận hành có trật tự, nền nếp, kỷ cương của một xã hội năng động, phát triển và văn minh. Đó cũng chính là nhu cầu tình cảm, là trách nhiệm và yêu cầu đạo đức đối với mỗi công dân trong giai đoạn mới.

Công cuộc đổi mới ở nước ta đang diễn ra trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Thực tế đó luôn đòi hỏi và thúc đẩy nâng cao trình độ dân trí, trình độ nghề nghiệp cho lực lượng lao động và xã hội hóa tri thức khoa học. Từ đó, trình độ nhận thức của mỗi cá nhân và của toàn xã hội cũng được nâng lên, làm cho khả năng điều chỉnh của đạo đức cũng biến đổi và phát triển theo chiều hướng tích cực. Sự biến đổi đó được biểu hiện ở tính duy lý cao hơn trong việc đánh giá, lựa chọn những giá trị và chuẩn mực đạo đức. Mỗi người trong hoạt động của mình đã có ý thức hơn trong việc tôn trọng pháp luật, có bản lĩnh hơn trong đấu tranh vì công bằng và lẽ phải, biết trân trọng và hướng tới cái đúng, cái tốt và cái đẹp. Có thể nói, việc chuyển sự điều chỉnh mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội với thói quen theo "lệ”, và nặng về đạo đức sang điều chỉnh bằng pháp luật, đề cao tính nhân bản là một trong những chuyển biên quan trọng nhất trong đời sông xã hội. Bởi lẽ, việc hình thành ý thức pháp luật của mỗi công dân là điều kiện để nâng cao ý thức đạo đức và năng lực thực hiện những hành vi đạo đức của mỗi cá nhân, đồng thời là cơ sở để phát triển đạo đức của xã hội.

Chúng ta đã biết, cả pháp luật và đạo đức đều góp phần bảo vệ các giá trị chân chính, đều liên quan đến hành vi và đụng chạm đến lợi ích của con người và xã hội. Pháp luật tham gia điều chỉnh quan hệ xã hội bằng những quy phạm, điều khoản quy định các quyền và nghĩa vụ của chủ thể. Các quy phạm pháp luật quy định chi tiết các hành vi được phép và hành vi bị cấm đoán. Đồng thời, chúng còn xác định cụ thể các cách cư xử lẫn những hình phạt sẽ áp dụng nếu chủ thể vi phạm. Ngoài ra, pháp luật còn thực hiện điều chỉnh mối quan hệ giữa con người và xã hội bằng sự bắt buộc, cưỡng chế từ bên ngoài. Trong khi đó, đạo đức lại điều chỉnh các mối quan hệ bằng dư luận xã hội, bằng sự giác ngộ và sự thôi thúc từ bên trong. Sự khác biệt nhưng lại thống nhất này là cơ sở để pháp luật và đạo đức bổ sung và hỗ trợ cho nhau. Do vậy, có thể nói, pháp luật không những là công cụ để quản lý Nhà nước, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự hình thành và phát triển ý thức đạo đức.

Thực tế những năm vừa qua ở nước ta cho thấy, hệ thống pháp luật và việc thi hành pháp luật đã có những tác động rõ rệt đến đời sống xã hội. Những quy định trong Hiến pháp, trong các luật và văn bản dưới luật luôn đề cao tính nhân đạo và nhân văn bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của Nhà nước mà nhân dân là chủ và do nhân dân làm chủ. Nói đúng hơn, đó là hệ thống pháp luật phục vụ cho việc thực thi các lợi ích cơ bản của con người, đặc biệt là lợi ích của người lao động. Vì vậy, các nguyên tắc định hướng cho việc xây dựng nội dung của hệ thống pháp luật, như công bằng, nhân đạo, vì sự phát triển tiến bộ của con người và xã hội... cũng chính là những nguyên tắc đạo đức cơ bản mà nhân loại tiến bộ đã, đang và sẽ hướng tới. Có thể nói, pháp luật sẽ góp phần rất lớn trong việc hình thành ý thức tôn trọng và chấp hành những quy phạm chung, giúp con người có những hành vi ứng xử văn minh, phù hợp với chiều hướng phát triển tiến bộ của thời đại.

Trong hệ thống văn bản pháp luật của nước ta, kể cả Hiến pháp, các bộ luật và văn bản dưới luật thường có nhiều quy phạm pháp luật ghi nhận những giá trị, những chuẩn mực đạo đức. Đặc biệt, Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: "Nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện". Ngoài ra, các bộ luật, như Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em... đều được xây dựng trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Vì vậy, có thể nhấn mạnh rằng, pháp luật vừa là công cụ hữu hiệu trong việc bảo tồn những giá trị truyền thông, vừa góp phần bồi đắp nên những giá trị mới trong đó có ý thức đạo đức. Việt Nam vốn là một nước kém phát triển, lại đang chuyển sang xây dựng nền kinh tế thị trường. Trong điều kiện như vậy, sự ít hiểu biết về pháp luật của một bộ phận nhân dân cùng với những bất cập của hệ thống pháp luật đã dẫn đến tình trạng vi phạm kỷ cương xã hội, coi thường pháp luật Nạn tham nhũng và các hành vi làm ăn bất lương, vượt ra ngoài khuôn khổ của pháp luật đang ngày càng gia tăng. Những biểu hiện xuống cấp và suy thoái đạo đức, đặc biệt là "ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ có chức, có quyền" đang là nỗi bất bình của toàn xã hội. Thực tế nhức nhối đó bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do pháp luật chưa đầy đủ hoặc thiếu chặt chẽ và việc thi hành pháp luật còn chưa nghiêm, chưa công bằng. Trong bối cảnh như vậy, luật pháp cần phải tỏ rõ sức mạnh của mình để lập lại trật tự, kỷ cương. Bởi lẽ, nếu đạo lý không đủ mạnh để thuyết phục thì pháp lý phải ra tay. Nếu dư luận xã hội chưa đủ độ để lên án thì luật pháp phải kết án".

Những năm gần đây, các cơ quan chức năng đã nỗ lực trong việc thanh tra, khám phá và đưa ra xét xử công khai nhiều vụ trọng án, kiên quyết trừng trị thích đáng những kẻ phạm tội, thu lại cho đất nước một lượng lớn tài sản. Việc làm đó không những được dư luận xã hội đồng tình, ủng hộ cái đúng, cái thiện, lên án cái sai, bài trừ cái ác, mà còn chứng tỏ vai trò vô cùng quan trọng của luật pháp trong việc bảo vệ nền đạo đức và lành mạnh hóa đời sung xã hội. Có thể nói, trong tiến trình đổi mới đất nước, pháp luật đã góp phần đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế, duy trì và tạo được một số chuyển biến khả quan về mặt xã hội, góp phần không nhỏ trong việc củng cố tiềm lực quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo thế và lực đưa nước ta từng bước hội nhập với thế giới. Chúng ta cũng đang từng bước xây dựng. sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống luật pháp cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới. Nhiều văn bản pháp luật và dưới luật được ban hành và đang đi vào cuộc sống, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân. Điều đó càng khẳng định một thực tế là, nếu như pháp luật ngày một hoàn thiện hơn, hoạt động tuyên truyền pháp luật được phổ biến rộng rãi hơn và việc thực hiện ngày càng nghiêm minh hơn thì ý thức pháp luật sẽ được nâng cao hơn, sự định hướng hành vi cho mọi công dân cũng sẽ tốt hơn.

Tuy nhiên, trên thực tế, hệ thống pháp luật của Nhà nước ta vẫn còn thiếu những quy định cần thiết trong lĩnh vực quản lý kinh tế và các quy định về quyền cơ bản của công dân. Việc phổ biến, giáo dục pháp luật chưa được chú trọng nếu như không nói là còn bị xem nhẹ. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thi hành luật của các cơ quan chức năng còn nhiều bất cập những kinh nghiệm xây đựng hệ thống pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật còn nhiều hạn chế. Tâm lý tiểu nông, thói quen của người sản xuất nhỏ làm cho nhiều người còn mang nặng tư tưởng phép vua thua lệ làng". Điều đó lý giải tại sao trong đời sống xã hội vẫn còn không ít người chưa có thói quen sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Trước đây, lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: pháp luật không phải là để trừng trị con người, mà là công cụ bảo vệ, thực hiện lợi ích của con người. Đáng tiếc là ở nước ta, vẫn còn một bộ phận dân chúng coi pháp luật là sự trói buộc mình nên đã có tâm lý trốn tránh pháp luật. Thực tế đó cũng làm cho việc thực thi pháp luật càng trở nên phức tạp hơn và chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Ngoài ra, đội ngũ cán bộ trực tiếp thực thi luật pháp chưa thực sự công tâm, nghiêm minh, gương mẫu trong việc chấp hành pháp luật và tình trạng pháp luật bị buông lỏng đã tạo điều kiện cho những hiện tượng phản đạo đức xuất hiện, gây ảnh hưởng xấu đến việc xây dựng các quan hệ xã hội lành mạnh và tiến bộ.

Pháp luật không loại trừ một ai và không phân biệt đối xử với bất kỳ ai. Đứng trước pháp luật thì mọi công dân đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau. Pháp luật là công cụ hữu hiệu để quản lý xã hội, điều chỉnh hành vi của con người theo hướng ngăn chặn, đẩy lùi cái xấu, cái ác và khuyến khích, nâng đỡ, phát huy cái tốt, cái thiện vốn có trong mỗi con người. Việc thực thi pháp luật là nhằm xây đựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh, tiến bộ vì con người và cho con người. Với quan niệm như vậy, pháp luật và việc thực thi pháp luật là môi trường nuôi dưỡng và phát triển các giá trị chân chính, trong đó có ý thức đạo đức.

Công cuộc đổi mới ở nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề phải tăng cường hơn nữa vai trò của pháp luật. Việc nâng cao vai trò, hiệu quả của pháp luật không chỉ nhằm lập lại trật tự, kỷ cương xã hội, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho việc hình thành và phát triển ý thức đạo đức mới. Để làm được điều đó, đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ nhiều biện pháp quan trọng.

Trước hết, cần phải nhận thức đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc hơn nữa vai trò của pháp luật trong việc xây đựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhận thức đầy đủ vấn đề này là một quá trình khó khăn và lâu đài. Trải qua thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đại hội VIII của Đảng đã nhấn mạnh rằng, cần phải "tăng cường pháp chế, xây đựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật". Gần đây, Đại hội X của Đảng đã khẳng định rằng, chúng ta cần "Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân, quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp". Điều đó cho thấy, việc xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền đang trở thành vấn đề thực sự có ý nghĩa cấp bách trong điều kiện và yêu cầu phát triển mới của đất nước. Bởi vì, đây là vấn đề không những góp phần tăng cường cơ sở pháp lý để người dân thực hiện quyền làm chủ của mình, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành và nuôi dưỡng ý thức đạo đức mới.

Thứ hai, chúng ta cần phải xây dựng đồng bộ và hoàn. thiện hệ thống pháp luật. Phương châm chỉ đạo của Đảng ta là: "Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật". Vấn đề này có liên quan chặt chẽ với việc nghiên cứu các giá trị, đặc biệt là các giá trị truyền thống. Thông qua quá trình đó, chúng ta có thể lựa chọn các chuẩn mực, các giá trị phù hợp để luật hóa chúng, biến thành những quy phạm chung của xã hội mà mỗi công dân đều có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh. Có thể nói, đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng và thực sự cấp bách trong quá trình xây dựng một xã hội tiến bộ, văn minh ở nước ta hiện nay.

Thứ ba, để nâng cao vai trò và hiệu quả của hệ thống pháp luật, ngoài các biện pháp trên, cần phải quan tâm đến chất lượng của các cơ quan làm luật và đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật. Thực tế những năm vừa qua cho thấy, đội ngũ cán bộ trực tiếp thực thi pháp luật không những còn thiếu và yếu về năng lực, thiếu ý thức trách nhiệm, mà còn thiếu cả cái tâm của con người. Đã có không ít trường hợp cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm những việc trái với chính sách và pháp luật, xử lý không nghiêm những trường hợp vi phạm, thậm chí chính bản thân họ cũng vi phạm pháp luật. Do vậy, việc nâng cao chất lượng của các cơ quan này cũng như xây dựng đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đang là đòi hỏi cấp bách hiện nay.

Thứ tư, để tăng cường vai trò của pháp luật thì việc thực thi pháp luật phải nghiêm minh, công bằng. Đứng trước pháp luật, mọi công dân đều bình đẳng cả về quyền và nghĩa vụ. Tất cả mọi hành động vi phạm pháp luật đều phải bị xử lý nghiêm khắc. Trước đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng, hiệu lực của pháp luật chỉ có được khi mọi người nghiêm chỉnh chấp hành. Trong thực thi pháp luật, về phía Nhà nước, việc tổ chức thực hiện phải nghiêm minh, thưởng phạt phải rõ ràng, về phía công dân, tất cả mọi người không loại trừ ai đều có nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện đúng pháp luật, có ý thức tôn trọng pháp luật.

Thứ năm, cần tổ chức tốt việc đưa pháp luật vào đời sống thông qua hoạt động giáo dục pháp luật. Bởi vì, một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh vẫn chưa thể đem lại hiệu quả cao nếu những quy định của nó không được mọi người biến thành hành động trong thực tế. Trước đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắc nhở: việc công bố đạo luật chưa phải là đã xong, mà còn phải tuyên truyền giáo dục lâu dài mới thực hiện được tốt. Theo Người, việc giáo dục pháp luật là một trong những công đoạn hết sức quan trọng. Nó không chỉ giúp nâng cao ý thức pháp luật cho người dân, mà còn tạo ra khả năng hình thành những nhu cầu, tình cảm, những chuẩn mực mới, đồng thời, góp phần củng cố ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm đạo đức, ngăn chặn các biểu hiện xâm phạm lợi ích chính đáng của người khác, khuyến khích những hành vi hợp pháp và hợp đạo lý.

Ngoài ra, để tạo môi trường thuận lợi cho việc hình thành ý thức đạo đức, cần phải đẩy mạnh hơn nữa các chương trình kinh tế - xã hội, như xoá đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng phải khắc phục những thiếu sót trong các chính sách quản lý kinh tế - xã hội, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các văn bản pháp luật cho phù hợp với yêu cầu của đất nước và bối cảnh quốc tế. Mặt khác, cũng cần phải tăng cường hơn nửa lực lượng, phương tiện, kinh phí cho các cơ quan bảo vệ pháp luật, xây dựng các cơ quan này thực sự trong sạch, vững mạnh.

Tóm lại, muốn xã hội ổn định và ngày càng phát triển, cần phải có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đồng bộ để điều chỉnh các hoạt động của con người và của toàn xã hội. Sự hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước.

Chính vì vậy, Đảng ta khẳng định rằng, để góp phần đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội, chúng ta phải "hoàn chỉnh hệ thống pháp luật", cụ thể là: "... tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, của Chính phủ, của các cơ quan tư pháp, đẩy mạnh cải cách hành chính và cải cách tư pháp, tăng cường hiệu lực và hiệu quả các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp". Đó là cơ sở xã hội, cơ sở pháp lý cho việc hình thành và phát triển ý thức đạo đức mới trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.

(MKLAW FIRM: sưu tầm)

>> Xem thêm:  Các giấy tờ cần nộp khi công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

3. Phân biệt vai trò của luật thành văn và án lệ

Anh và Mỹ đều là 2 nước thuộc dòng họ commonlaw nhưng vai trò của luật thành văn và án lệ ở hai quốc gia này có những điểm khác biệt nhất định.

A. MỞ ĐẦU

Anh và Mỹ đều là 2 nước thuộc dòng họ commonlaw nhưng vai trò của luật thành văn và án lệ ở hai quốc gia này có những điểm khác biệt nhất định.

B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1. Án lệ là nguồn luật chính thống và chủ yếu ở Anh còn ở Mĩ thì án lệ ít quan trọng hơn.

Trong cả hai hệ thống pháp luật Anh và Mỹ thì đều tôn trọng nguyên tắc “stare decisis” nghĩa là tuân thủ các pháp quyết trước đây và không phá vỡ những quy phạm pháp luật đã được thiết lập trong án lệ. Theo nguyên tắc này thì tòa án cấp dưới chịu sự ràng buộc bởi các nguyên tắc pháp lý do các tòa án cấp trên sáng tạo ra được ghi nhận trong các bản án trong quá trình xét xử các vụ việc trong quá khứ.

Tuy nhiên sự tuân thủ nguyên tắc “stare decisis” ở Anh có phần khắt khe hơn rất nhiều so với ở Mĩ.

- Án lệ ở Anh đậm nét hơn vì ở Anh nó đã trở thành một nguyên tắc đã ăn sâu vào tiềm thức của người Anh. Việc bám sát vào tiền lệ pháp trong hoạt động xét xử là yêu cầu nghiêm ngặt. Mức độ tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc stare decisis của các tòa án ở Anh thể hiện ở sự không muốn phủ nhận các phán quyết trong quá khứ của chính mình. Ngoài ra các tòa án Anh tạo ra luật và thay đổi luật bằng các bản án của họ nhưng các thẩm phán có xu hướng ra sức biện luận trong các bản án của mình rằng trong các vụ án đang thụ lý họ không làm gì hơn ngoài việc “ tìm ra” các quy định pháp luật đã có và đã được động đến trong án lệ.

Ở Anh, những phán quyết của Thượng nghị viện, Tòa phúc thẩm và tòa cấp cao ( High court) có giá trị ràng buộc đối với các tòa án cấp thấp hơn. Tuy nhiên không phải toàn bộ các phán quyết của các tòa án này đều có giá trị ràng buộc mà chỉ có những bản án được xuất bản mới trở thành án lệ và có giá trị ràng buộc. Phán quyết của Tòa phúc thẩm và Tòa án cấp cao không có giá trị ràng buộc Thượng nghị viện nhưng thông thường Thượng nghị viện rất tôn trọng phán quyết của các tòa án này. Từ sau năm 1966 thì Thượng nghị viện Anh không bắt buộc phải tuân thủ các phán quyết của chính mình. Phán quyết của Tòa án hình sự trung ương, Tòa địa hạt và tòa án hình sự và gia đình không phải là án lệ và không có giá trị ràng buộc.

Trong mỗi bản án thì cũng chỉ có phần các nguyên tắc để ra phán quyết (ratio decidendi) là có giá trị ràng buộc, còn phần bình luận của thẩm phán (obiter dictum) chỉ có giá trị tham khảo.

- Ở Mỹ, tiền lệ pháp được các tòa án trích dẫn thường xuyên nhưng trong các bản án cũng dành nhiều chỗ cho quan điểm của thẩm phán về chính sách chung, so với các thẩm phán Anh, thẩm phán Mỹ đề cập nhiều hơn đến hệ quả thực tiễn của một phán quyết xem nó có phù hợp với nhu cầu chính sách hay không.

Có nhiều lý do giải thích cho sự khác nhau này ở Anh và Mỹ.

Về mặt lịch sử, nước Mỹ ban đầu vốn là thuộc địa của Anh,từ khi mới giành được độc lập năm 1776 thì họ đã không hề muốn phụ thuộc vào vương quốc Anh, tiền lệ pháp có nguồn gốc từ Anh nên không thực sự được ưa chuộng, đặc biệt là trong điều kiện kinh tế xã hội có nhiều thay đổi. Mặt khác, nước Mỹ là hợp chủng quốc, người Anh tuy chiếm phần đông nhưng không thể phủ nhận sự tồn tại của các dân tộc khác, với bản sắc văn hóa, tôn giáo, chủng tộc khác nhau, do đó, việc tiếp thu, chấp nhận thụ động án lệ – một thứ cứng nhắc và ra đời từ rất lâu không phù hợp với người Mỹ.

Về mặt thực tiễn thì cấu trúc tòa án của Mỹ cũng có ảnh hưởng lớn tới án lệ của nước này. Bởi như đã phân tích ở trên thì nước Mỹ có 13 bang khi mới thành lập và hiện nay là 50 bang. Hệ thống tòa án đồ sộ với cả 2 mảng là tòa án liên bang và tòa án bang, trong mỗi mảng thì lại chia ra nhiều cấp xét xử và có thể có nhiều tòa án phụ trách các lĩnh vực khác nhau. Ở Mĩ phán quyết của các tòa án tối cao ở cấp bang và liên bang không chịu sự ràng buộc của chính mình; tòa án bang không bị bắt buộc tuân thủ án lệ của các tòa án ở các bang khác, ví dụ một phán quyết của tòa phúc thẩm cuối cùng (Court of Appreals) của New York không bị bắt buộc tuân thủ án lệ của tòa phúc thẩm cuối cùng của bang Michigan. Tuy nhiên các phán quyết phù hợp của các tòa án bang khác thường được viện dẫn, giá trị thuyết phục phụ thuộc vào việc tòa án nào đã đưa ra quyết định đó.

Trong một số lĩnh vực mà chỉ có liên bang mới có thẩm quyền xét xử thì đương nhiên, các phán quyết của tòa án liên bang sẽ có giá trị như tiền lệ pháp, và các bang sẽ phải tuân theo, ví dụ như nếu tòa án liên bang đã tuyên một đạo luật nào đó là vô hiệu, trái với hiến pháp thì tất nhiên, các bang sẽ không được phép áp dụng đạo luật này.

Tòa án tối cao của Mỹ cũng khẳng định rằng kết quả xét xử của một vụ việc có thể dựa trên chính sách chung nhiều hơn là dựa vào án lệ và rằng triết lý của tòa án thay đổi tùy theo quan điểm cá nhan của người thẩm phán về vấn đề đang giải quyết và ở thời điểm giải quyết vụ việc.

Qua đây có thể khẳng định một lần nữa, việc áp dụng nguyên tắc stare decisis ở Mỹ không nghiêm ngặt như ở Anh.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

2. Luật thành văn ở Mỹ có vai trò quan trọng hơn luật thành văn ở Anh

* Hiến pháp :

Anh không có hiến pháp thành văn, thực chất chỉ có những văn bản luật có tính chất như hiến pháp đó là Luật tổ chức Nghị viện, Luật tổ chức Chính phủ, Luật kế vị ngai vàng, Charter of Liberties 1100, The Petition of Right (1628), English Bill of Rights (1688), Scotland Act of 1998 and Associated LegislationGovernment of Wales Act of 1998 and Associated Legislation ( 1998),Northern Ireland Act of 1998 and Associated Legislation,The Belfast AgreementHuman Rights Act (1998) . (1998), (1998),The

Ngay từ khi ra đời thì nước Mỹ đã rất coi trọng luật thành văn. Hiến pháp năm 1789 là văn kiện pháp lý có tính chất tối cao, đây có thể coi là bản hiến pháp đầu tiên và là bản hiến pháp nổi tiếng nhất trong lịch sử với trên 200 năm tồn tại. Bản hiến pháp này dựa trên nền tảng học thuyết tam quyền phân lập của Montesquieu và học thuyết về kiềm chế đối trọng quyền lực.

Ở Anh không hề có sự phân biệt về tầm quan trọng của những văn bản mang tính hiến pháp so với pháp luật thông thường nên cũng không có cơ quan bảo hiến, còn ở Mỹ, Hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất nên Tòa án tối cao Mỹ là cơ quan có chức năng bảo hiến.

Một điểm chứng minh vai trò của luật thành văn trong nguồn luật của Mĩ đó là cơ quan lập pháp của Mỹ thường xuyên tiến hành luật hóa các phán quyết của tòa án, các án lệ điển hình , hoạt động pháp điển hóa ở Mỹ được tiến hành thường xuyên hơn so với ở Anh. Một lĩnh vực nếu cùng có luật thành văn và án lệ điều chỉnh thì tất nhiên luật thành văn sẽ được ưu tiên áp dụng.

Một điểm nữa khiến cho luật thành văn ở Mỹ trở nên quan trọng đó là vì tốc độ làm luật của các luật gia Mỹ thực sự rất đáng khâm phục. Đầu năm 2002 những vụ bê bối tài chính của các công ty hàng đầu của Mỹ trong nhiều lĩnh vực như Worldcom ( công ty trong lĩnh vực viễn thông), Enron (trong lĩnh vực năng lượng), đã là động lực cho sự ra đời của Đạo luật Sarbanes–Oxley 2002 còn có tên khác là Luật Bảo vệ nhà đầu tư và sửa đổi chế độ kế toán ở Công ty Cổ phần, gọi tắt là SOX hoặc SarbOx, được Quốc hội Mỹ ban hành ngày 30/7/2002 ( Tác giả của đạo luật này là 2 nghị sĩ Paul Sarbanes và Michael Oxley). Tuy là một nước nằm trong dòng họ pháp luật commonlaw nhưng có rất nhiều chế định luật thành văn của Mỹ là khuôn mẫu và là chuẩn mực của nhiều bộ luật hiện hành của các nước trên thế giới, đó là những bộ luật điều chỉnh những vấn đề mới phát sinh trong khoảng vài chục thập kỷ trở lại đây, ví dụ như Luật sở hữu trí tuệ, luật về tội phạm công nghệ thông tin,…

* Điểm khác biệt trong nguồn luật thành văn giữa Anh và Mỹ đó là ở Anh có thêm luật của liên minh châu Âu, điều này là do yếu tố điều kiện kinh tế xã hội quy định. Như chúng ta đã biết thì năm 1973, Anh trở thành thành viên của cộng đồng châu Âu ( EEC) mà ngày nay đã đổi tên thành liên minh châu Âu. Khi gia nhập liên minh này thì tất nhiên, luật thành văn của Anh không chỉ bao gồm luật trong nước mà còn có cả luật của Liên minh châu Âu mà nước này đã ký kết và được nghị viện Anh phê chuẩn. Phán quyết của tòa án châu Âu cũng có thể trở thành nguồn luật quan trọng, là tiền lệ pháp của các tòa án vương quốc Anh.

C. KẾT LUẬN

Qua những phân tích trên đây có thể thấy được những điểm khác biệt căn bản trong vai trò của luật thành văn và án lệ ở Anh và ở Mỹ. Dù cùng là những nước nằm trong dòng họ common law, pháp luật Mỹ có nguồn gốc từ pháp luật

Anh nhưng sau khi du nhập vào Mỹ thì nó đã có những biến dạng;điều này được quy định bởi các nhân tố về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, lịch sử và địa lý của nước Mỹ.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình luật so sánh trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân năm 2008.

2. Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, Nxb Tp Hồ Chí Minh năm 2003.

3. Luật so sánh (bản tiếng Việt), Micheal Bogdan năm 2002.

4. Truyền thống pháp luật Mỹ trong hệ thống pháp luật châu Âu (Trích trong sách “ Truyền thống pháp luật Mỹ trong hệ thống pháp luật phương Tây, phương pháp điều chỉnh của pháp luật, các án lệ và các văn bản, tài liệu” của tác giả Gary F. Bell, do Nhà xuất bản Foundation phát hành tại New york năm 1996, trang 19-23)

(MKLAW FIRM sưu tầm)

>> Xem thêm:  Tư vấn về một số thắc mắc về thủ tục thế chấp nhà ?

4. Vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong hệ thống ngân hàng

Hoạt động của các tổ chức tài chính nói chung và các ngân hàng nói riêng luôn có những rủi ro, trong đó mất khả năng thanh toán là rủi ro lớn nhất. Hậu quả có thể dẫn tới là hệ thống tài chính quốc gia bị tê liệt; xã hội bị bất ổn và niềm tin của các nhà đầu tư sẽ bị giảm sút.

Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển, nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài có vị trí hết sức quan trọng cho tăng trưởng kinh tế; và đặc biệt có một bộ phận không nhỏ người dân Việt Nam cuộc sống của họ chỉ biết trông chờ vào lãi suất thu được từ việc gửi tiền tiết kiệm tại các ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng, thì vần đề bảo hiểm tiền gửi lại càng có ý nghĩa quan trọng. Ngày 01/09/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 89/1999/NĐ-CP về bảo hiểm tiền gửi. Tiếp theo đó, ngày 9/11/1999 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 218/1999/QĐ- TTg về việc thành lập cơ quan BHTG Việt Nam. Sau 9 năm đi vào hoạt động tổ chức BHTG tại Việt Nam đã và đang tiếp tục khẳng định tốt vai trò của mình trong việc bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo sự phát triển an toàn của hệ thống ngân hàng, ổn định an ninh chính trị và đời sống xã hội. BHTG được xem như một lời đảm bảo công khai và hữu hiệu của Chính phủ để củng cố lòng tin của công chúng; hạn chế tình trạng người gửi tiền đổ xô đi rút tiền hàng loạt tại ngân hàng vì nghe tin đồn thất thiệt, không có cơ sở về tình hình hoạt động tài chính kém lành mạnh của một ngân hàng nào đó; hoặc thậm chí ngay cả trong trường hợp thực sự có sự đổ vỡ của một ngân hàng nào đó thì Nhà nước cũng sẽ có biện pháp can thiệt kịp thời nhằm tránh sự lây lan sang tổ chức tín dụng đang hoạt động lành mạnh khác.

1. Mô hình và vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi

BHTG được xuất hiện lần đầu tiên ở Mỹ vào năm 1932 sau những vụ vỡ nợ ngân hàng hàng loạt, đó là BHTG liên bang của Mỹ (FDIC). FDIC là cơ quan của Chính phủ có nhiệm vụ thực hiện việc bảo hiểm đối với toàn bộ hoạt động của hệ thống ngân hàng Mỹ. Sau sự ra đời của FDIC, tính đến nay trên thế giới đã có khoảng hơn 90 quốc gia có tổ chức BHTG. Ngày 6/5/2002

Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi Quốc tế được thành lập, có trụ sở tại Thụy Sỹ với sự tham gia của nhiều hệ thống BHTG trên thế giới. Điều đó, tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của BHTG đối với sự kiểm soát hoạt động tài chính – ngân hàng bảo vệ người gửi tiền của các nước trên thế giới.

Hiện nay trên thế giới có ba mô hình BHTG phổ biến, đó là: Mô hình chi trả; Mô hình chi trả có quyền hạn mở rộng; Mô hình giảm thiểu rủi ro. Nhiệm vụ và chức năng của các mô hình này là: Thứ nhất, đối với mô hình chi trả, tổ chức BHTG có chức năng chính là thực hiện chi trả cho người gửi tiền sau khi tổ chức tham gia BHTG bị phá sản. Thứ hai, đối với mô hình chi trả có quyền hạn mở rộng thì ngoài chức năng thực hiện chi trả cho người gửi tiền sau khi tổ chức tham gia BHTG bị phá sản thì tổ chức BHTG còn có một số chức năng khác tuỳ thuộc vào đặc thù của mỗi nước (đây chính là mô hình tổ chức hiện tại của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam hiện nay). Thứ ba, đối với mô hình giảm thiểu rủi ro, đây là mô hình có tính ưu việt nhất, bởi vì nó đã thể hiện được tốt nhất vai trò của tổ chức BHTG trong việc bảo vệ người gửi tiền. Ngoài các chức năng, thẩm quyền của tổ chức BHTG theo hai mô hình nêu trên thì mô hình giảm thiểu rủi to còn có thêm một số chức năng, thẩm quyền khác nhằm bảo vệ tốt nhất người gửi tiền; đảm bảo sự an toàn của hệ thống tài chính và tham gia vào tái thiết hệ thống tài chính – ngân hàng. Sau cuộc khủng hoảng ngân hàng Northern Rock ở Anh cuối năm 2007, các chuyên gia kinh tế thế giới đã phân tích và chỉ ra một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự đổ vỡ ngân hàng là do hệ thống BHTG ở Anh hoạt động kém hiệu quả với mô hình chi trả. Vì vậy nó đã không tạo lập được niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính – ngân hàng dẫn tới việc không thể ngăn chặn được dòng người rút tiền ồ ạt. Sau cuộc khủng hoảng này, để hạn chế rủi ro Chính phủ Anh đã có chủ trương chuyển mô hình tổ chức BHTG từ chi trả sang mô hình giảm thiểu rủi ro. Tuỳ theo mô hình tổ chức được áp dụng mà tổ chức BHTG có thể khẳng định rõ được vai trò của mình trong việc bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo sự phát triển an toàn của hệ thống ngân hàng.

Bảo hiểm tiền gửi có vai trò rất quan trọng đối với sự ổn định phát triển kinh tế -xã hội. Nó góp phần bảo vệ người gửi tiền, đảm bảo sự an toàn lành mạnh hoạt động ngân hàng, thúc đẩy huy động vốn phục vụ phát triển và xử lý khủng hoảng tài chính. BHTG có mục đích cơ bản sau: i) Bảo vệ người gửi tiền ít, có hạn chế về mặt thông tin đối với hoạt động của các tổ chức

nhận tiền gửi. ii) Góp phần đảm bảo hệ thống tài chính – ngân hàng hoạt động lành mạnh, ổn định và ngăn chặn đổ vỡ ngân hàng thông qua các hoạt động nghiệp vụ. iii) Góp phần xây dựng thị trường tài chính lành mnh, có tính cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức tài chính với quy mô và loại hình khác nhau. iv) Giảm thiểu gánh nặng cho Chính phủ trong trường hợp xử lý đổ vỡ của tổ chức tín dụng; giảm gánh nặng cho người dân đóng thuế trong trường hợp ngân hàng đổ bể (Nhà nước không phải sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý đổ vỡ của các tổ chức tín dụng).

Như chúng ta đã biết, tiền gửi là “của cải” chủ yếu, thuộc sở hữu của số đông dân cư, là lợi ích của những người gửi tiền nhỏ, tầng lớp dân cư có thu nhập thấp. Tầng lớp dân cư này có những hạn chế nhất định trong việc tiếp cận và phân tích thông tin về hoạt động của tổ chức huy động tiền gửi. Đời sống của những người gửi tiền thuộc tầng lớp dân cư có thu nhập thấp thường bị tác động nhiều hơn các khách hàng gửi tiền khác khi có đổ bể ngân hàng xảy ra. Mặc dù, tiền gửi tại ngân hàng của những nguời có thu nhập thấp thường ít hơn số tiền gửi của các đối tượng khác nhưng có thể tiền lãi trên số tiền gửi ít ỏi đó lại là nguồn sống hàng ngày của người dân nghèo. Vì lo lắng sẽ bị ảnh hưởng khi có đổ bể ngân hàng và vì bị hạn chế về khả năng có được thông tin chính xác về hoạt động của các tổ chức tín dụng nên tầng lớp người gửi tiền có thu nhập thấp thường hay có các "ứng xử quá đỗi" khi có thông tin đồn đại thất thiệt về ngân hàng. Chẳng hạn, khi có một thông tin đồn đại xấu về ngân hàng nào đó thì họ có thể ồ ạt rút tất cả tiền gửi tại ngân hàng này mặc dù nhu cầu chi tiêu chủ quan của họ chưa nhất thiết phải làm như vậy. Hiện tượng rút tiền ồ ạt vì một thông tin thất thiệt ở Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu tại Việt Nam trong tháng 10/2003 là một minh chứng cụ thể. Các hiện tượng đó nếu không được xử lý kịp thời có thể là nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ ngân hàng hàng loạt, và đây là một trong những vai trò quan trọng của tổ chức BHTG nhằm hạn chế những hậu quả này.

Ngoài ra, vai trò của tổ chức BHTG đối với đảm bảo sự phát triển an toàn, bền vững của hệ thống ngân hàng được thể hiện trên ba giác độ: Một là, hoạt động bảo hiểm tiền gửi có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng mới ra đời hoặc ngân hàng với quy mô hoạt động hạn chế có điều kiện phát triển tốt hơn. Với các ngân hàng nhỏ hay ngân hàng mới đi vào hoạt động, người dân có tâm lý lo ngại có thể mất tiền gửi do ngân hàng nhận tiền gửi "bị đóng cửa". Tuy nhiên, khi các tổ chức này tham gia BHTG thì tâm lý này sẽ được giải toả, giúp ngân hàng phát triển tốt hơn. Hai là, hoạt động BHTG giúp các ngân hàng thực sự yếu kém, không thể tiếp tục duy trì hoạt động có thể rút khỏi lĩnh vực kinh doanh ngân hàng một cách có trật tự, không ảnh hưởng tới các ngân hàng khác. Thông qua hoạt động của nghiệp vụ kiểm tra và giám sát của

mình, tổ chức BHTG có khả năng đánh giá kịp thời thực trạng hoạt động của các ngân hàng tham gia BHTG. Chẳng hạn, trong trường hợp phát hiện ngân hàng nào đó hoạt động yếu kém, không hiệu quả thì tổ chức BHTG sẽ triển khai một số biện pháp hỗ trợ, như: (1) đưa ra phương án sáp nhập với ngân hàng khác; (2) chi trả bảo hiểm tiền gửi cho người gửi tiền thuộc đối tượng bảo hiểm tiền gửi; (3) tham gia vào quá trình thanh lý tài sản của ngân hàng đó để tiếp tục bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền có tiền lớn hơn hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi. Ba là, hoạt động BHTG tạo động lực để các ngân hàng giám sát lẫn nhau, thúc đẩy nhau nâng cao chất lượng hoạt động, từ đó đảm bảo sự phát triển bền vững của cả hệ thống tài chính ngân hàng quốc gia.

2. Đánh giá một số kết quả đạt được của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Kinh nghiệm từ đổ vỡ hệ thống hợp tác xã tín dụng những năm 1989-1990 và tác động khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 cho thấy, hệ thống tài chính – ngân hàng Việt Nam càng hội nhập sâu rộng càng tiềm ẩn những yếu tố rủi ro, bao gồm cả những rủi ro mang tính hệ thống, nhất là hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và các ngân hàng thương mại cổ phần. Như trên đã đề cập, BHTG Việt Nam là một trong các định chế tài chính thực hiện những biện pháp phòng ngừa nhằm góp phần hạn chế tổn thất và ngăn ngừa sự đổ vỡ hàng loạt các tổ chức tín dụng.

Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là tổ chức tài chính Nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, được Nhà nước cấp vốn điều lệ ban đầu 1.000 tỷ đồng- tính đến tháng 1/2008 thì vốn điều lệ của BHTG Việt Nam đã được tăng lên là 5.000 tỷ đồng. Sau 9 năm đi vào hoạt động BHTGVN đã từng bước khẳng định được vai trò của mình trong tiến trình đổi mới, cơ cấu lại hệ thống tài chính ngân hàng; bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền; góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh hoạt động ngân hàng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội.

Kết quả ban đầu đáng ghi nhận đó là chúng ta đã có khung khổ pháp lý cho hoạt động BHTG; công khai hoá chính sách công BHTG, các tổ chức nhận tiền gửi phải tham gia BHTG bắt buộc; đối tượng tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi bằng đồng Việt Nam, chủ yếu là tin gửi của cá nhân, hộ gia đình. BHTG Việt Nam thực hiện nhiệm vụ cấp và thu hồi Chứng nhận BHTG, thu phí bảo hiểm ở mức đồng hạng 0,15%/năm trên số dư tiền gửi được bảo hiểm, giám sát các tổ chức nhận tiền gửi, đầu tư tài chính, hỗ trợ tài chính đối với các tổ chức nhận tiền gửi, chi trả tiền bảo hiểm tối đa 50 triệu đồng cho một người gửi tiền tại một tổ chức nhận tiền gửi, thu hồi nợ và thanh lý tài sản.

Tính đến thời điểm hiện tại, BHTG Việt Nam đã cấp giấy Chứng nhận BHTG cho hơn

1.077 tổ chức nhận tiền gửi, bao gồm 05 ngân hàng thương mại Nhà nước, 34 ngân hàng thương

mại cổ phần, 32 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 05 ngân hàng liên doanh, 10 tổ chức tín dụng phi ngân hàng, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương và 990 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở1.

Hoạt động giám sát, kiểm tra là nghiệp vụ quan trọng nhất của BHTG Việt Nam, hiện nay triển khai giám sát 100% các tổ chức tham gia BHTG và thực hiện nhiều cuộc kiểm tra tại chỗ đối với các tổ chức tham gia bảo hiểm. Hiện nay, BHTG Việt Nam đang nghiên cứu cải tiến hoạt động giám sát theo mô hình và chuẩn mực quốc tế; kết nối trực tuyến thí điểm với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi để khai thác báo cáo điện tử trực tuyến từ các tổ chức tín dụng.

Chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền là biện pháp cuối cùng khi tổ chức tham gia bảo hiểm chấm dứt hoạt động, đó là một trong những nội dung hoạt động quan trọng của BHTG Việt Nam. Thời gian qua, BHTG Việt Nam đã chi trả kịp thời theo quy định cho 1.511 người gửi tiền với tổng số tiền là 18.421 triệu đồng, tại 36 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở bị giải thể2. Việc chi trả tiền bảo hiểm đã thể hiện được vai trò của BHTG Việt Nam trong việc bảo vệ người gửi tiền, tạo lập niềm tin của người dân, ngăn ngừa ảnh hưởng đổ vỡ dây chuyền trong hệ thống ngân hàng, nhất là trong tình hình khủng hoảng tài chính ở một số nền kinh tế lớn hiện nay.

3. Định hướng phát triển của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong thời gian tới

Vận dụng các bài học kinh nghiệm của thế giới, trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cho thấy xu thế phát triển tất yếu trong thời gian tới của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là:

- Nhanh chóng hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động BHTG tại Việt Nam, trong đó cần xây dựng Luật về Bảo hiểm tiền gửi là cơ sở để BHTG Việt Nam phát huy tốt nhất vai trò của mình trong việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và đảm bảo an toàn hệ thống tài chính ngân hàng.

- Xây dựng được mô hình tiến tiến về BHTG, tổ chức BHTG giảm thiểu rủi ro với các chức năng mở rộng của nó.

- Thiết kế được mạng lưới an toàn tài chính quốc gia có cơ chế hoạt động và phối hợp rõ ràng, kiểm soát có hiệu quả hoạt động của các tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có nhận tiền gửi.

- Hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng về BHTG; tích cực trao đổi kinh nghiệm, hợp tác kỹ thuật tiến tới tiêu chuẩn hoá các vấn đề về bảo hiểm tiền gửi.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Định giá tài sản bảo đảm theo quy định Bộ Luật Dân sự 2015

5. Vai trò và trách nhiệm của đại ký bảo hiểm trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Sau hơn 20 năm đổi mới và mở cửa thị trường bảo hiểm, ngành bảo hiểm Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ. Cùng với sự lớn mạnh của ngành bảo hiểm, Luật Kinh doanh bảo hiểm (KDBH) được Quốc hội thông qua đã tạo một nền tảng pháp lý cho hoạt động bảo hiểm phát triển ở Việt Nam.

1. Đặt vấn đề

Hiện nay, trên địa bàn cả nước đã có 29 doanh nghiệp và hơn 30 văn phòng đại diện nước ngoài hoạt động trong tất cả các lĩnh vực bảo hiểm với các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH): công ty bảo hiểm nhà nước, DNBH cổ phần và DNBH có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập và tham gia trong nhiều lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm. Với doanh thu của các loại hình bảo hiểm trên địa bàn cả nước hằng năm đã đạt 900 triệu USD, tốc độ tăng trưởng khoảng 30%/năm, Việt Nam đang được coi là mảnh đất màu mỡ của các tập đoàn KDBH nước ngoài. Bên cạnh sự ra đời và thành công của DNBH không thể không tính đến vai trò của đại lý bảo hiểm (ĐLBH).

Các công ty bảo hiểm muốn kinh doanh hiệu quả, tăng doanh thu, phí bảo hiểm, tăng số lượng hợp đồng khai thác mới, tăng số lượng khách hàng thì phải có một hệ thống đại lý hoạt động hiệu quả, chuyên nghiệp và có tinh thần trách nhiệm cao; đồng thời, tạo niềm tin và sự quảng bá để tăng cường khách hàng tham gia và có điều kiện tiếp cận với các loại dịch vụ bảo hiểm thì hoạt động của các đại lý phải đảm bảo niềm tin cho khách hàng và gắn kết trách nhiệm của đại lý với hoạt động kinh doanh của đại lý và xiết chặt cơ chế quản lý đối với ĐLBH. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến vai trò và trách nhiệm của đại lý trong hoạt động bảo hiểm của DNBH, trên cơ sở đó, đề xuất ý kiến nhằm tăng cường trách nhiệm của ĐLBH góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động KDBH, tạo động lực để hoạt động bảo hiểm trở thành một kênh tài chính hữu hiệu cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế đất nước.

2. Vai trò và trách nhiệm của đại lý bảo hiểm trong quan hệ KDBH

Cá nhân và tổ chức trung gian đứng ra làm chủ thể phân phối bảo hiểm được chính thức ghi nhận với tư cách là “ĐLBH” tại Việt Nam trong Nghị định số 100/NĐ-CP ban hành ngày 18/12/1993: “ĐLBH là cá nhân có đủ điều kiện quy định tại Điều 19 của Nghị định này hoạt động ĐLBH”; Theo quy định tại Điều 19 thì “Hoạt động ĐLBH phải trên cơ sở hợp đồng đại lý ký kết với DNBH. Cá nhân hoạt động ĐLBH phải có đủ các điều kiện sau:

- Là công dân Việt Nam, đang cư trú tại Việt Nam;

- Có bằng tốt nghiệp phổ thông trung học trở lên;

- Không ở trong tình trạng bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang thi hành án hình sự hay bị mất trí”.

Như vậy, trong văn bản pháp luật này chưa được ghi nhận cụ thể hoạt động của ĐLBH. Ngày 30/5/1994 Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 46-TC/CĐTC hướng dẫn Nghị định 100/NĐ-CP mới chính thức quy định nội dung, phạm vi hoạt động, quyền và nghĩa vụ của ĐLBH đó là:

- Phải thực hiện đúng các điều khoản quy định trong hợp đồng đại lý đã ký với DNBH.

- Không được đồng thời nhận làm đại lý cho một DNBH khác nếu không được sự đồng ý của DNBH mà mình đang làm đại lý.

- Không được phép tiến hành đồng thời các hoạt động khác có quyền lợi đối lập với quyền lợi của DNBH mà mình đang làm đại lý và Thông tư số 76-TC/CĐTC ngày 25/10/1995 quy định về tỷ lệ hoa hồng phí của ĐLBH.

Cùng với sự phát triển lớn mạnh của thị trường tài chính Việt Nam, hoạt động bảo hiểm ngày càng khẳng định được vị thế của mình đối với nền kinh tế. Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và mở rộng phạm vi hoạt động của kênh tài chính này. Những quy định trên đã được thể chế trong quy định của Luật KDBH. Theo quy định tại Điều 84, Luật KDBH “ĐLBH là tổ chức, cá nhân được DNBH ủy quyền trên cơ sở hợp đồng ĐLBH để thực hiện hoạt động ĐLBH theo quy định của Luật KDBH và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.

ĐLBH được xem là một chủ thể đứng ra để thực hiện “một giao dịch được ủy quyển” nên công việc của ĐLBH mang tính chất độc lập cao và gắn với trách nhiệm cả về phía khách hàng trong quan hệ bảo hiểm và cả về phía DNBH mà đại lý làm ủy quyền.

Tính đến hết tháng 6 năm 2009, tổng số lượng đại lý có mặt trên thị trường là 82.432 người, tăng 17% so với cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp có số lượng đại lý cao nhất là Prudential 28.040 người, Bảo Việt Nhân thọ là 16.762 người, AIA là 10.569 người.

Số lượng đại lý mới tuyển dụng trong 06 tháng đầu năm 2009 là 48.217 người, tăng 34% so với cùng kỳ năm ngoái, các DNBH có số lượng đại lý mới tuyển dụng nhiều nhất thị trường theo thứ tự là: Prudential, AIA và Dai-ichi Life1.

Trong qua trình hoạt động kinh doanh, việc tìm kiếm và tiếp cận với khách hàng cũng như phát triển hoạt động của DNBH đều thực hiện chủ yếu thông qua đại lý‎ bảo hiểm. ĐLBH có thể được DNBH ủy quyền tiến hành các hoạt động: Giới thiệu, chào bán bảo hiểm; Thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm; Thu phí bảo hiểm; Thu xếp giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm; Thực hiện các hoạt động khác có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm. Như vậy, có thể nói ĐLBH là chủ thể trung gian giữa DNBH và bên mua bảo hiểm, do vậy trách nhiệm pháp lý phát sinh trong hoạt động ĐLBH ảnh hưởng không nhỏ đến quyền và lợi ích của bên tham gia gia bảo hiểm cũng như DNBH. Điều đó đòi hỏi phải quy định những căn cứ pháp lý cụ thể để ràng buộc trách nhiệm của ĐLBH trong quan hệ bảo hiểm nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của các bên tham gia trong quan hệ bảo hiểm, thúc đẩy hoạt động KDBH phát triển nói riêng, thúc đẩy nền kinh tế phát triển nói chung, đồng thời khắc phục hậu quả rủi ro trong hoạt động xã hội, huy động vốn cho đầu tư, phát triển. Người đại lý có thể chủ động trong các giao dịch của mình, có quyền đánh giá rủi ro của khách hàng và quyết định cung cấp dịch vụ hay không, điều đó xác định về trách nhiệm của ĐLBH độc lập với trách nhiệm của công ty bảo hiểm, ĐLBH phải chịu trách nhiệm về tính trung thực trong giao dịch bảo hiểm.

DNBH có thể ủy quyền cho ĐLBH bán sản phẩm bảo hiểm. ĐLBH có các nghĩa vụ đã được ghi trong Điều 18, Điều 29 và Điều 30 Nghị định số 45 ngày 27/03/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm.

Trong quan hệ với người tham gia bảo hiểm, trước khi hợp đồng bảo hiểm được giao kết, ĐLBH là người tư vấn sản phẩm và giải thích những điều khoản trong hợp đồng cho khách hàng hiểu, thu xếp để hợp đồng bảo hiểm được ký kết. Trong giai đoạn này, đại lý có trách nhiệm phân tích nhu cầu và khả năng của khách hàng để tư vấn chọn sản phẩm phù hợp nhất cho mình. Sau khi hợp đồng ký kết, ĐLBH có trách nhiệm giải đáp những thắc mắc trong quá trình tham gia bảo hiểm của khách hàng, giúp khách hàng duy trì hiệu lực hợp đồng và hỗ trợ khách hàng hoàn thành các thủ tục giải quyết bồi thường nếu không may rủi ro xảy ra hoặc thủ tục nhận quyền lợi bảo hiểm khi hợp đồng đáo hạn. Tuy nhiên, ĐLBH không phải là người giải quyết các quyền lợi cho khách hàng, mặc dù họ được công ty giao phó trọng trách mang sản phẩm của công ty đến cho khách hàng, thực hiện các dịch vụ chăm sóc và hỗ trợ khách hàng thực hiện các thủ tục nhận quyền lợi.

Trong quy định của Luật KDBH, cơ chế ràng buộc cũng như trách nhiệm của đại lý trong hợp đồng bảo hiểm chưa được chặt chẽ và chi tiết, để đảm bảo quyền lợi cho DNBH trong hoạt động kinh doanh của mình và khách hàng tham gia bảo hiểm, Điều 88, Luật KDBH quy định: “Trong trường hợp ĐLBH vi phạm hợp đồng ĐLBH, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được bảo hiểm thì DNBH vẫn phải chịu trách nhiệm về hợp đồng bảo hiểm do ĐLBH thu xếp giao kết; ĐLBH có trách nhiệm bồi hoàn cho DNBH các khoản tiền mà DNBH đã bồi thường cho người được bảo hiểm”, điều đó đảm bảo quyền lợi cho bên mua bảo hiểm trong trường hợp ĐLBH vi phạm, cho nên đòi hỏi các DNBH phải thắt chặt cơ chế quản lý đối với ĐLBH, cũng như việc tuyển dụng và ký hợp đồng ĐLBH.

Trường hợp ĐLBH vi phạm do việc cung cấp thông tin không trung thực của ĐLBH sẽ dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp này, nếu khôi phục lại tình trạng ban đầu thì bên bị thiệt hại chính là DNBH vì đã phải bỏ ra các chi phí để giao kết và duy trì hợp đồng. Tuy nhiên, trong trường hợp này với việc cung cấp thông tin không trung thực dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng bảo hiểm, trong khi những thông tin sai sự thật đó là cơ sở để người mua bảo hiểm tham gia vào hợp đồng bảo hiểm, việc xử lý hợp đồng vô hiệu ảnh hưởng đến quyền lợi của bên mua bảo hiểm vì đã đóng phí bảo hiểm… Điều đó ảnh hưởng không ít niềm tin của khách hàng đối với DNBH.

Khi có bằng chứng về vi phạm của ĐLBH, quyền lựa chọn cách thức xử lý thuộc về bên mua bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm được cân nhắc hoặc bỏ qua sự vi phạm của đại lý, tiếp tục duy trì hợp đồng hoặc là chấm dứt sự tồn tại của hợp đồng và các bên không ràng buộc các quyền và nghĩa vụ mà các bên đã cam kết, ràng buộc trong hợp đồng.

Trường hợp hợp đồng được thiết lập bởi hành vi ép buộc giao kết hợp đồng của ĐLBH. Hành vi ép buộc giao kết hợp đồng bảo hiểm trái pháp luật là việc ĐLBH sử dụng ảnh hưởng, các biện pháp hành chính hoặc các hình thức gây sức ép khác để người có nhu cầu bảo hiểm phải tham gia bảo hiểm tại một DNBH.

Hợp đồng bảo hiểm được thiết lập trong trường hợp này cũng không phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm giao kết hợp đồng.

Trường hợp hành vi vi phạm của ĐLBH có sự kết hợp với bên mua bảo hiểm để cung cấp thông tin sai nhằm hành vi trục lợi bảo hiểm. Trong trường hợp vi phạm của ĐLBH nhưng người chịu trách nhiệm chính lại là bên mua bảo hiểm. Theo quy định của Điều 19 Luật KDBH, thì phương thức xử lý lại gây bất lợi trực tiếp đến bên mua bảo hiểm: “DNBH có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có một trong những hành vi: Cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường; Không thực hiện các nghĩa vụ trong việc cung cấp thông tin cho DNBH”.

Một trong những hành vi vi phạm phổ biến trong thời gian gần đây là hành vi trục lợi bảo hiểm, trong đó có sự tham gia không nhỏ của ĐLBH. Chẳng hạn khi thực hiện mua bảo hiểm nhân thọ, khách hàng cố tình không cung cấp thông tin hoặc cung cấp sai sự thật những thông tin liên quan đến tình trạng sức khỏe của mình để lập hồ sơ giả, đòi bồi thường bảo hiểm. Một số đối tượng vốn đã mắc bệnh hiểm nghèo, không khai báo với cơ quan bảo hiểm trước khi ký hợp đồng mua bảo hiểm, thậm chí có đối tượng mua bảo hiểm cho cả người thân đã chết. Đó là chưa kể có tình trạng người mua bảo hiểm còn cố ý hủy hoại tài sản hoặc tự gây thương tích cho bản thân, móc ngoặc với nhân viên bảo hiểm lập hồ sơ giả đòi bồi thường bảo hiểm.

Đòi hỏi, phải năng cao trách nhiệm của ĐLBH, tăng cường quản lý đối với kiểm tra, giám sát việc lập hồ sơ bồi thường của DNBH, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc lợi dụng những lỗ hổng trong phương thức quản lý, điều hành của DNBH để trục lợi. Hành vi gian lận, trục lợi trong bảo hiểm có tác động tiêu cực đối với sự phát triển của thị trường bảo hiểm cũng như quyền và lợi ích của người tham gia bảo hiểm. Bên cạnh đó, Nhà nước cần có chế tài đủ mạnh để xử lý nghiêm, nếu chỉ dừng ở mức xử phạt hành chính như hiện nay, thì việc vi phạm sẽ rất khó hạn chế vì chế tài chưa đủ mạnh để ngăn ngừa và răn đe.

3. Một số ý kiến đề xuất

Để hoạt động KDBH thực sự là một kênh tài chính hữu hiệu cho sự phát triển kinh tế của đất nước thì một đòi hỏi là nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNBH, đặc biệt là DNBH trong nước và hiệu quả cũng như trách nhiệm của ĐLBH, điều đó đòi hỏi phải có một giải pháp đồng bộ cả về doanh nghiệp KDBH và ĐLBH:

- DNBH phải xây dựng lại quy chế đào tạo ĐLBH, có quy chế quản lý chặt chẽ đối với ĐLBH, hoạt động ĐLBH. DNBH phải có mối quan hệ chặt chẽ và thường xuyên với Hiệp hội Bảo hiểm để giám sát các hoạt động của ĐLBH. Nhiều ý‎ kiến cho rằng, nên thắt chặt lại cơ chế tuyển dụng đại lý ở các DNBH, đây cũng là giải pháp hữu hiệu để năng cao trách nhiệm và hiệu quả của hoạt động bảo hiểm.

- Bản thân ĐLBH phải tự đào tạo nâng cao trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của mình.

- Hướng dẫn ĐLBH một cách chi tiết, cụ thể từng nội dung công việc được ủy quyền trong giao kết hợp đồng bảo hiểm.

- Pháp luật quy định rõ nghĩa vụ của đại lý đối với DNBH và thỏa thuận trong hợp đồng đại lý giữa DNBH với ĐLBH; nghĩa vụ của ĐLBH đối với bên mua bảo hiểm cũng như trách nhiệm của đại lý trong việc thông đồng với khách hàng để trục lợi bảo hiểm hoặc lỗi vô ý để khách hàng trục lợi bảo hiểm.

- Xác định trách nhiệm của ĐLBH đối với bên mua bảo hiểm và DNBH trong việc cung cấp thông tin sai sự thật.

- Nâng cao mức trách nhiệm của ĐLBH cũng như chế tài xử phạt đối với hoạt động ĐLBH.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & Biên tập)

>> Xem thêm:  Án lệ: Tranh chấp hợp đồng đổi đất