1. Khái niệm "ngoại hối"
Ngoại hối bao gồm:
- Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ).
- Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm: séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác.
- Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm: trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ khác.
- Vàng thuộc Dự trữ ngoại hối Nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra lãnh thổ Việt Nam.
- Đồng tiền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng thanh toán quốc tế.
2. Khái niệm "hoạt động ngoại hối"
Hoạt động ngoại hối là thuật ngữ có thể được hiểu và được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau:
Từ góc độ khoa học pháp lý: Hoạt động ngoại hối là tổng hợp các hành vi pháp lý do các chủ thể khác nhau thực hiện trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản được coi là ngoại hối. Các hoạt động ngoại hối có tính chất dân sự hoặc thương mại tùy thuộc vào người thực hiện chúng vì nhu cầu dân sự/ thương mại.
Từ góc độ luật thực định: Theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 thì hoạt động ngoại hối được hiểu như sau: "Hoạt động ngoại hối là hoạt động của người cư trú, người không cư trú trong các giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam, hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối và các giao dịch khác liên quan đến ngoại hối."
Như vậy, có thể hình dung hoạt động ngoại hối như là quá trình hoạt động kinh tế - pháp lý của các chủ thể thông qua việc xác lập và thực hiện các giao dịch khác nhau về ngoại hối.
3. Quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động ngoại hối
3.1. Quy định pháp luật điều chỉnh đối với giao dịch vãng lai
Giao dịch vãng lai là giao dịch giữa người cư trú với người không cư trú không vì mục đích chuyển vốn. Hay giao dịch vãng lai là các giao dịch giữa người cư trú và người không cư trú trong mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, thu nhập và các chuyển giao mang tính một chiều.
Khái niệm về người cư trú và người không cư trú được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 4 Văn bản hợp nhất số 07/2013/VBHN - VPQH ngày 11/07/2013 về Pháp lệnh ngoại hối:
"2. Người cư trú là tổ chức, cá nhân thuộc các đối tượng sau đây:
- Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập, hoạt động tại Việt Nam theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng;
- Tổ chức kinh tế không phải là tổ chức tín dụng được thành lập, hoạt động kinh doanh tại Việt Nam (sau đây gọi là tổ chức kinh tế);
- Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện của Việt Nam hoạt động tại Việt Nam;
- Văn phòng đại diện tại nước ngoài của các tổ chức quy định tại các điểm a, b và c khoản này;
- Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự, cơ quan đại diện tại tổ chức quốc tế của Việt Nam ở nước ngoài;
- Công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam; công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài có thời hạn dưới 12 tháng; công dân Việt Nam làm việc tại các tổ chức quy định tại điểm d và điểm đ khoản này và cá nhân đi theo họ;
- Công dân Việt Nam đi du lịch, học tập, chữa bệnh và thăm viếng ở nước ngoài;
- Người nước ngoài được phép cư trú tại Việt Nam với thời hạn từ 12 tháng trở lên. Đối với người nước ngoài học tập, chữa bệnh, du lịch hoặc làm việc cho cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam, văn phòng đại diện của các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam không kể thời hạn là những trường hợp không thuộc đối tượng người cư trú;
- Chi nhánh tại Việt Nam của tổ chức kinh tế nước ngoài, các hình thức hiện diện tại Việt Nam của bên nước ngoài tham gia hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, văn phòng điều hành của nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam.
3. Người không cư trú là các đối tượng không quy định tại khoản 2 Điều này."
Bên cạnh đó, Nghị định số 70/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh ngoại hối và pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh ngoại hối có những quy định chi tiết về từng giao dịch vãng lai, cụ thể:
Thứ nhất, đối với giao dịch thanh toán và chuyển tiền liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ. Theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 70/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh ngoại hối và pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh ngoại hối:
Người cư trú có nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ hoặc từ các nguồn thu vãng lai khác ở nước ngoài phải chuyển vào tài khoản ngoại tệ mở tại tổ chức tín dụng được phép tại Việt Nam phù hợp với thời hạn thanh toán của hợp đồng hoặc các chứng từ thanh toán, trừ một số trường hợp được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét cho phép giữ lại một phần hoặc toàn bộ nguồn thu ngoại tệ ở nước ngoài.
Mọi giao dịch thanh toán và chuyển tiền liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ phải được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản thông qua tổ chức tín dụng được phép.
Thứ hai, đối với giao dịch chuyển tiền một chiều từ nước ngoài vào Việt Nam. (Điều 6 Nghị định số 70/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh ngoại hối và pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh ngoại hối)
Ngoại tệ của người cư trú là tổ chức ở Việt Nam thu được từ các khoản chuyển tiền một chiều phải được chuyển vào tài khoản ngoại tệ mở tại tổ chức tín dụng được phép hoặc bán cho tổ chức tín dụng được phép.
Ngoại tệ của người cư trú là cá nhân ở Việt Nam thu được từ các khoản chuyển tiền một chiều được sử dụng cho mục đích cất giữ, mang theo người, gửi vào tài khoản ngoại tệ mở tại tổ chức tín dụng được phép hoặc bán cho tổ chức tín dụng được phép; trường hợp là công dân Việt Nam thì được gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép...Người cư trú là công dân Việt Nam được sử dụng ngoại tệ tiền mặt để gửi tiết kiệm ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép, được rút tiền gốc, lãi bằng đồng tiền đã gửi...
Thứ ba, chuyển tiền một chiều từ Việt Nam ra nước ngoài. ((Điều 7 Nghị định số 70/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh ngoại hối và pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh ngoại hối)
Người cư trú là tổ chức thực hiện chuyển tiền một chiều ra nước ngoài để phục vụ mục đích tài trợ, viện trợ hoặc các mục đích khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Người cư trú là công dân Việt Nam được mua, chuyển, mang ngoại tệ ra nước ngoài theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho các mục đích sau: Học tập, chữa bệnh ở nước ngoài; Đi công tác, du lịch, thăm viếng ở nước ngoài; Trả các loại phí, lệ phí cho nước ngoài; Trợ cấp cho thân nhân đang ở nước ngoài; Chuyển tiền thừa kế cho người hưởng thừa kế ở nước ngoài; Chuyển tiền trong trường hợp định cư ở nước ngoài; Chuyển tiền một chiều cho các nhu cầu hợp pháp khác.
Người không cư trú, người cư trú là người nước ngoài có ngoại tệ trên tài khoản hoặc các nguồn thu ngoại tệ hợp pháp được chuyển, mang ra nước ngoài; trường hợp có nguồn thu hợp pháp bằng đồng Việt Nam thì được mua ngoại tệ để chuyển, mang ra nước ngoài.
Tổ chức tín dụng được phép có trách nhiệm xem xét các chứng từ, giấy tờ do người cư trú, người không cư trú xuất trình để bán, chuyển, xác nhận nguồn ngoại tệ tự có hoặc mua từ tổ chức tín dụng được phép để mang ra nước ngoài căn cứ vào yêu cầu thực tế, hợp lý của từng giao dịch chuyển tiền.
Thứ tư, đối với giao dịch mang ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam bằng tiền mặt và vàng khi xuất, nhập cảnh.
Người cư trú và người không cư trú là cá nhân khi xuất, nhập cảnh được phép mang theo người số lượng ngoại tế hoặc đồng Việt Nam bằng tiền mặt và theo mức quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong từng thời kỳ, phù hợp với chính sách quản lý ngoại hối của Nhà nước.
Mặt khác, pháp luật cũng quy định người cư trú, người không cư trú là cá nhân có ngoại tệ tiền mặt được quyền cất giữ, mang theo người, cho, tặng, thừa kế, bán cho tổ chức tín dụng được phép, thanh toán cho các đối tượng được phép thu ngoại tệ bằng tiền mặt.
Thông tư số 11/2014/TT-NHNN ngày 28/03/2014 quy định về việc mang vàng của cá nhân khi xuất, nhập cảnh, Nhà nước quy định chặt chẽ về mang vàng khi xuất cảnh định cư ở nước ngoài với hạn mức, trình tự thủ tục, giấy phép chặt chẽ hơn. Các cá nhân phải thực hiện nghĩa vụ này nhằm tránh tình trạng tích lũy ngoại tệ quá lớn khi di chuyển vào hoặc ra khỏi Việt Nam, làm cho thị trường ngoại hối trong nước mất cân bằng. Mặt khác, quy định này cũng nhằm mục đích giúp Nhà nước phần nào kiểm soát được lượng ngoại tệ của người cư trú là cá nhân.
3.2. Quy định pháp luật điều chỉnh đối với giao dịch vốn
Giao dịch vốn là các giao dịch chuyển vào Việt Nam, chuyển vốn từ Việt Nam ra nước ngoài trong hoạt động đầu tư, vay và trả nợ nước ngoài, cho vay và thu hồi nợ nước ngoài làm tăng hoặc giảm vốn đầu tư là ngoại hối giữa người cư trú và người không cư trú.
Giao dịch vốn được nới lỏng sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 60/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 quy định chi tiết về pháp lệnh ngoại hối. Đồng thời, bổ sung thêm một số nội dung mà trước đây chưa có hoặc chưa cụ thể như quản lý ngoại hối đối với hoạt động cho vay, thu hồi nợ nước ngoài, đầu tư gián tiếp, việc phát hành chứng khoán trong và ngoài nước.
Chính phủ, Ngân hàng nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh các giao dịch ngoại hối liên quan đến hoạt động góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam của nhà đầu tư nước ngoài cũng như các hoạt động mua bán chứng khoán niêm yết tại trung tâm giao dịch chứng khoán tại Việt Nam của nhà đầu tư nước ngoài. Các văn bản này đã quy định rõ việc chuyển giao vốn vào Việt Nam, chuyển đổi đồng ra đồng Việt Nam để góp vốn, mua cổ phần, mua chứng khoán quy định về việc mở và sử dụng tài khoản vốn chuyên dùng cho các hoạt động đầu tư này. Các quy định về quản lý ngoại hối trên thị trường chứng khoán đã được xây dựng và hoàn thiện theo hướng từng bước tự do các hoạt động giao dịch vốn. Liên quan đến quản lý và vay nợ nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam, ngân hàng nhà nước cũng đã ban hành thông qua quy định rõ ràng và thống nhất việc thực hiện quản lý nợ nước ngoài tại Ngân hàng Nhà nước Trung ương và Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố, hướng dẫn cụ thể về điều kiện vay nước ngoài ngắn, trung và dài hạn, xác nhận đăng ký của Ngân hàng Nhà nước về việc vay trả nợ nước ngoài.
Trong hoạt động đầu tư vào Việt Nam, theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 70/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh ngoại hối và pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh ngoại hối:
- Người cư trú là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và nhà đầu tư nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phải mở tài khoản vốn đầu tư trực tiếp bằng ngoại tệ tại 01 (một) tổ chức tín dụng được phép để thực hiện các giao dịch thu, chi liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp tại Việt Nam.
- Trường hợp thực hiện đầu tư bằng đồng Việt Nam, người cư trú là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và nhà đầu tư nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh được mở 01 (một) tài khoản vốn đầu tư trực tiếp bằng đồng Việt Nam tại tổ chức tín dụng được phép nơi doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và nhà đầu tư nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh đã mở tài khoản vốn đầu tư trực tiếp bằng ngoại tệ theo quy định tại Khoản 1 Điều này để thực hiện các giao dịch thu chi hợp pháp bằng đồng Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
Trong hoạt động đầu tư ra nước ngoài, việc đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp phải được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy phép trên cơ sở Chính phủ chấp thuận, theo các quy định của Luật Đầu tư...
Người cư trú là tổ chức kinh tế Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức tín dụng ở Việt Nam khi vay và trả nợ hoặc cho vay và thu hồi nợ nước ngoài phải thực hiện đăng ký và báo cáo tình hình thực hiện khoản vay với ngân hàng nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý và vay nợ nước ngoài. Việc chuyển tiền để thực hiện vay và trả nợ, cho vay và thu hồi nợ nước ngoài của tổ chức kinh tế Việt nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức tín dụng ở Việt Nam phải thực hiện qua các ngân hàng được phép và chỉ được thực hiện khi đã đăng ký với ngân hàng nhà nước.
Khoản 2, Điều 3 Thông tư số 03/2016/TT-NHNN hướng dẫn quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp, quy định về tài khoản vay và trả nợ nước ngoài: “Ngân hàng cung ứng dịch vụ tài khoản là ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam nơi Bên đi vay, bên bảo lãnh cho khoản vay nước ngoài mở tài khoản thanh toán để thực hiện rút vốn, trả nợ khoản vay nước ngoài và các giao dịch chuyển tiền khác liên quan đến hoạt động vay, trả nợ nước ngoài, bảo lãnh cho khoản vay nước ngoài; ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản thanh toán để chuyển vốn cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư.”
Điều 28 Thông tư 05/2016/TT-NHNN sửa đổi quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp, quy định về thay đổi tài khoản thực hiện khoản vay nước ngoài như sau:
“1. Trường hợp thay đổi tài khoản thực hiện khoản vay nước ngoài do thay đổi ngân hàng cung ứng dịch vụ tài khoản, Bên đi vay không phải là ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài yêu cầu ngân hàng cung ứng dịch vụ tài khoản hiện tại xác nhận tình hình rút vốn, trả nợ liên quan đến khoản vay nước ngoài để ngân hàng cung ứng dịch vụ tài khoản mới tiếp tục theo dõi tình hình thực hiện khoản vay nước ngoài theo quy định hiện hành về quản lý vay trả nợ nước ngoài.
2. Trường hợp thay đổi tài khoản thực hiện khoản vay nước ngoài do thay đổi đồng tiền nhưng không thay đổi ngân hàng cung ứng dịch vụ tài khoản, ngân hàng cung ứng dịch vụ tài khoản có trách nhiệm giám sát việc rút vốn, trả nợ khoản vay nước ngoài theo quy định hiện hành về quản lý vay, trả nợ nước ngoài."
(Sưu tầm và biên tập)