Luật sư trả lời

1. Căn cứ pháp lý:

Luật Thương mại năm 2005;

Nghị định 68/2009/NĐ-CP  ;

Pháp lệnh quảng cáo 2001;

Thông tư số 13/2009/TT-BYT;

Nghị định số 24/2003/NĐ-CP;

Thông tư số 43/2003/TT-BVHTT hướng dẫn thực hiện Nghị định 24/2003/NĐ-CP;

Luật Dược năm 2005

2. Nội dung tư vấn:

>> Xem thêm:  Hà Nội tăng giá dịch vụ khám chữa bệnh là bao nhiêu tiền năm 2020 ?

Xin trân thành cảm ơn sự tin tưởng của bạn đọc

1.Khái niệm chung

1.1. Khuyến mại

Thuật ngux khuyến mại, trong tiếng Anh là Sales Promotion, hoặc đôi khi cũng được dùng gọn là Promotion, đã được dùng phổ biến ở các nước vận hành theo nền kinh tế chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, thuật ngữ “khuyến mại” mới được sử dụng rộng rãi trong nên kinh tế, gắn liền với giới thương nhân và doanh nghiệp.

Trong tiếng Việt, thuật ngữ “ Khuyến mại” được hiểu ngắn gọn là “Khuyến khích việc mua hàng” – cahcs hiểu này xuất phát từ nghĩa của từ Hán Việt: “ mại” là mua, “Khuyên” là khuyến khích.

  Theo khoản 1 Điều 88 Luật Thương mại 2005 thì khuyến mại (Sale promotion) được hiểu là: hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định.

*)   Khuyến mại có những đặc điểm sau:

  • Chủ thể thực hiện: là thương nhân, trong đó, thương nhân tự thực hiện việc khuyến mại cho mình hoặc làm dịch vụ cho thương nhân khác để kinh doanh (việc này hình thành trên cơ sở hợp đồng dịch vụ khuyến mại)
  • Cách thức thực hiện: dành cho khách hàng những lợi ích nhất định (vật chất hoặc phi vật chất). Khách hàng được khuyến mại là người tiêu dùng hoặc là các trung gian phân phối.
  • Mục đích: xúc tiến việc bán hàng và cung ứng dịch vụ để tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường hàng hóa dịch vụ chủ yếu thông qua việc lôi kéo khách hàng thực hiện hành vi mua sắm, sử dụng dịch vụ, giới thiệu sản phẩm mới, kích thích trung gian phân phối chú ý hơn nữa tới hàng hóa của doanh nghiệp, tăng lượng hàng đặt mua,…

  Hiện nay vẫn còn tranh luận xung quanh việc nên sử dụng thuật ngữ khuyến mại hay khuyến mãi. Mặc dù Luật Thương mại 2005 chỉ sử dụng thuật ngữ khuyến mại, nhưng trên thực tế các website, quảng cáo,… dùng cả hai thuật ngữ này để chỉ chung việc khuyến khích tiêu thụ hàng hóa. Có quan điểm cho rằng hoạt động này phải gọi là “khuyến mãi” vì “(theo nghĩa Hán Việt: mại 賣 là bán, mãi 買 là mua) tức là khuyến khích mua hàng. Còn nếu sử dụng “khuyến mại” là chỉ khuyến khích các nhân viên hoặc đại lý bán được nhiều hàng hơn và sẽ có thưởng nếu đạt doanh số.” Quan điểm khác cho rằng “phải dịch là khuyến mại mới đúng vì “mại” theo nghĩa từ Hán Việt là bán, tương ứng với từ sales trong tiếng Anh. Tuy nhiên nếu dựa vào nội dung của thuật ngữ sales promotion thì  việc chuyển ngữ như vậy cũng chưa ổn.”

1.2. Quảng cáo

Cũng như “Khuyến mại”, thuật ngữ “quảng cáo” trong tiếng Anh là Advertisement đã được dùng phổ biến ở tất cả các nước có nền kinh tế thị trường. Tại Việt Nam, thuật ngữ “quảng cáo” cũng đã được biết đến từ lâu nhưng trên thực tế, trước đây người sử dụng thuật ngữ “quảng cáo” thường thiên về ý nghĩa văn hoa của nó , quảng cáo không được dùng phổ biến dưới ý nghĩa chỉ một hoạt động thương mại.

Trong tiếng Việt: “Quảng cáo được hiểu như sau:

Quảng cáo: Trình bày để giới thiệu rộng rãi cho nhiều người biết nhằm tranh thử được nhiều khách hàng. Như vậy, định nghĩa này cũng đề cập đnế quảng cáo trong mối liên quan với khách hàng, tức là thừa nhận ý nghĩa thương mại của thuật ngữ.

>> Xem thêm:  Quy định mới năm 2020 về một số trường hợp khuyến mại mà không cần thông báo với Sở Công thương ?

Luật quảng cáo của CHND Trung Hoa ngày 27/10/1994 (có hiêu lực 01/02/1995 ) quy định: Quảng cáo được hiểu là một hoạt động mang tính thương mại mà người cung cấp hàng hóa, dịch vụ giới thiệu hàng hóa, dịch vụ của mình, cho dù trực tiếp hay gián tiếp, thông qua các hình thức thông tin công cộng.

Hoạt động quảng cáo ở Việt Nam được điều chỉnh bởi hai loại văn bản pháp luật: Các văn bản pháp luật về Quảng cáo nói chung và văn bản pháp luật về quảng cáo thương mại.

Điều 4 pháp lệnh quảng cáo quy định: “Quảng cáo là giới thiệu đến người tiêu dùng về hoạt động kinh doanh hàng hóa dịch vụ bao hồm có mục đích sinh lời và dịch vụ không sinh lời.”

Theo luật thương mại Việt Nam (2005), Điều 102 mục 2 quy định về quảng cáo thương mại như sau: “Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình”.

*)Phân biệt với quảng cáo nói chung và với các hoạt động xúc tiến thương mại khác thì Quảng cáo có những đặc điểm sau đây:

  • Chủ thể hoạt động quảng cáo thương mại là thương nhan. Với tư cách là người kinh doanh, thương nhân thực hiện quảng cáo thương mại để hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh của mình hoặc thực hiện dịch vụ quảng cáo cho thương nhân khác theo hợp đồng để tìm kiếm lợi nhuận;
  • Nội dung thông tin quảng cáo bao gồm thông tin về hàng hóa, dịch vụ thương mại, về hoạt động kinh doanh của thương nhân;
  • Mục đích trực tiếp của quảng cáo thương mại là giới thiệu rộng rãi về hàng hóa, dịch vụ để xúc tiến thương mại, đáp ứng nhu cầu cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận của thương nhân.
  • Quảng cáo là một loại thông tin phải trả tiền. Điều đó có nghĩa là khi các tổ chức, cá nhân muốn giới thiệu hàng hóa, dịch vụ của mình ra công chúng thì thông thường họ sẽ sử dụng dịch vụ quảng cáo đồng thời phải trả một khoản tiền cho việc thông báo đó.
  • Quảng cáo là công cụ truyền bá thông tin một cahcs gián tiếp. Quảng cáo thương mại thực hiện chủ yếu qua các phương tiện trung gian để truyền thông tin tới công chúng như: truyền hình, báo chí, internet,…
  • Quảng cáo mang tính đơn phương. Quảng cáo chỉ có thông tin một chiều từ người tiến hành hoạt động quảng cáo.
  • Quảng cáo không chỉ dành riêng cho cá nhân. Mục đích cuối cùng của quảng cáo là khuếch trương hình ảnh, sản phẩm, nhằm mục tiêu đã định của người quảng cáo.

1.3. Khái niệm thuốc chữa bệnh cho người

Khái niệm thuốc được quy định tại Khoản 2, Điều 2 Luật Dược năm 2005khoản 1 Điều 2 Thông tư  13/2009/TT-BYT :“Thuốc là chất hoặc hỗn hợp các chất dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bênh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế, trừ thực phẩm chức năng”.

Như vậy, từ quy định trên ta thấy được, thuốc chữa bệnh cho người là chất hoặc hỗn hợp các chất hóa học có khả năng tác động lên cơ thể con người, thay đổi chức năng của một hay nhiều cơ quan trong cơ thể và làm thay đổi tiến trình của một bệnh; thuốc được dùng cho người sẽ không bao gồm thuốc thú ý, thuốc chữa bệnh trên thực vật và có bốn chức năng cơ bản là phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể.

Thuốc bao gồm thuốc thành phẩm(thuốc đã qua tất cả các giai đoạn sản xuất, kể cả đóng gói trong bao bì cuối cùng và dán nhãn); nguyên liệu làm thuốc; vắc xin( chế phẩm chứa kháng nguyên tạo cho cơ thể khả năng đáp ứng miễn dịch, được dùng với mục đích phòn bệnhh; sinh phẩm y tế (sản phẩm có nguồn gốc sinh học được dùng để phòng bệnh, chữa bệnh và chẩn đoán bệnh cho người), không bao thực phẩm chức năng ( có tác dụng tăng sức đề kháng, hỗ trợ cho sức khỏe, ví dụ trà giảm cân…)

 

2. Quảng Cáo thuốc chữa bệnh cho người

>> Xem thêm:  Tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục được hưởng quyền lợi gì ?

2.1. Khái niệm quảng cáo thuốc

Thông tư 13/2009/TT-BYT đã đưa ra khái niệm quảng cáo thuốc tại khoản 3 Điều 2 như sau: “Quảng cáo thuốc là hoạt động giới thiệu thuốc do đơn vị kinh doanh thuốc trực tiếp tiến hành hoặc phối hợp, hoặc tài trợ, ủy quyền cho một đơn vị khác tiến hành để thúc đẩy việc kê đơn cung ứng, bán và/hoặc sử dụng thuốc trên cơ sở sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả”. Khái niệm này không nói rõ quảng cáo thuốc là quảng cáo thương mại, nhưng nếu nhìn từ các dấu hiệu về tính chất (hoạt động giới thiệu hàng hóa thuốc), chủ thể (đơn vị kinh doanh thuốc), mục đích (thúc đấy việc tiêu thụ thuốc) thì có thể thấy quảng cáo thuốc cũng là một hoạt động xúc tiến thương mại ( hoạt động này nhằm mục đích sinh lợi, nó chỉ mang tính bổ trợ, đóng vai trò gián tiếp thúc đẩy việc mua bán thuốc được thực hiện liên tục, thường xuyên) do thương nhân thực hiện ( thương nhân ở đây là các “đơn vị kinh doanh thuốccó thê là các nhà sản xuât, cung ứng thuốc; các thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại…) để giới thiệu thuốc của mình ( truyền tải đến  đội ngũ nhân viên y tế, người tiêu dùng những thông tin về thuốc để từ đó đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm). Điều lưu ý ở đây, do đối tượng của quảng cáo thuốc là thuốc-một loại hàng hóa đặc biệt, vốn được coi là nhu cầu yếu phẩm, có liên quan trực tiếp sức khỏa con người nên quảng cáo thuốc được pháp luật quy định hét sức chặt chẽ.

 

2.2 Quy định của pháp luật hiện hành về quảng cáo thuốc

2.2.1. Chủ thể của quảng cáo thuốc

+ Người quảng cáo là các “cơ sở kinh doanh thuốc”(khoản 1 Điều 52 Luật Dược 2005) và phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 17 Nghị định 24/2003/NĐ-CP, trong đó, các cơ sở kinh doanh thuốc phải cung cấp cả Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc, Giấy phép lưu hành sản phẩm do Cục Quản lý dược cấp hoặc bản sao Quyết định cấp sổ đăng ký thuốc của Cục Quản lý dược ( Điều 30 TT 13/2009/TT-BYT).

+Thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại : Theo Điều 104 LTM 2005, kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại là “hoạt động thương mại của thương nhân để thực hiện việc quảng cáo cho thương nhân khác”. Quyền và nghĩa vụ của họ được quy định cụ thể tại Điều 24 Pháp lệnh quảng cáo và Điều 113, 114 LTM 2005 như: phải đăng ký kinh doanh dịch vụ này với cơ quan nhà nước có thẩm quyền; khi hành nghề phải tuân thủ các quy định pháp luật về quảng cáo…

+Người phát hành quảng cáo thương mại là người trực tiếp phát hành sản phẩm quảng cáo thương mại (Điều 115 LTM 2005), cụ thể hơn, người nắm giữ các phương tiện quảng cáo, có khả năng đưa sản phẩm quảng cáo đến công chúng, bao gồm cơ quan báo chí, nhà xuất bản, tổ chức quản lý mạng thông tin máy tính…(Pháp lệnh quảng cáo). Quyền và nghĩa vụcủa người phát hành quảng cáo được quy định tại Điều 25 Pháp lệnh quảng cáo và Điều 116 LTM 2005.

+Người cho thuê phương tiện để quảng cáo là chủ thể nắm giữ các phương tiện quảng cáo như báo chí, truyền hình… và sẵn sàng cho những người có nhu cầu thuê với mục đích phát hành quảng cáo, trên thực tế, người cho thuê phương tiện quảng cáo thường đồng thời là người phát hành quảng cáo. Quyền và nghĩa vụ của hok được quy định tại Điều 26 Pháp lệnh quảng cáo.

 

2.2.2.Những quy định khác liên quan đến quảng cáo thuốc

a)Nội dung và hình thức của quảng cáo thuốc phải tuân theo các quy định điều chỉnh về vấn đề này của Thông tư 13/2009/TT-BYT đưa ra bởi vì quảng cáo thuốc không chỉ đáp ứng được mục tiêu quảng bá thuốc của nhà sản xuất, kinh doanh mà còn phải chứa đựng các thông tin có tác dụng giúp người tiêu dùng sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả.

b)Hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại: Việc thương nhân sản xuất, kinh doanh thuốc thuê một thương nhân khác thực hiện quảng cáo thuốc phải được xác lập trên cơ sở hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại. Không có các quy định điều chỉnh riêng về hợp đồng dịch vụ quảng cáo thuốc, những quy đinh chung về hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại sẽ được áp dụng:

>> Xem thêm:  Điều kiện, thủ tục, quy trình xin giấy phép đăng ký khuyến mại

Về hình thức, theo quy định tại Điều 17 Pháp lệnh Quảng cáoĐiều 110 LTM 2005 thì hợp đồng dịch vụ quảng cáo thương mại phải được lập thành văn bản.

 Về nội dung thì hợp đồng phải ghi nhận các điều khoản về tên, địa chỉ các bên ký kết hợp đồng; hình thức, nội dung,phương tiện quảng cáo..(Điều 17 Pháp lệnh quảng cáo).

c)Những hành vi bị cấm trong quảng cáo thuốc:

Hoạt động quảng cáo thương tuy mang lại nhiều lợi ích nhưng nếu sử dụng với mục đích không đúng thì sẽ có thể xâm hại quyền lợi của người tiêu dùng, các nhà sản xuất, thậm chí ảnh hưởng đến quyền lợi của toàn xã hội. Nhằm ngăn chặn điều đó, các hành vi thương mại bị cấm được xây dựng như một công cụ định hướng và kiểm soát hành động quảng cáo. Những quy định này được ghi nhận tại Điều 5 Pháp lệnh Quảng cáo, Điều 3 Nghị định 24/2003/NĐ-CP và Điều 109 LTM 2005, theo đó, các hành vi quảng cáo thuốc vi phạm những quy định tại các Điều này đương nhiên cũng bị nghiêm cấm.

Ngoài ra, xuất phát từ các đặc điểm riêng của thuốc và quảng cáo thuốc, pháp luật còn quy định cụ thể những hành vi bị nghiêm cấm khi quảng cáo thuốc với mục đích đặt ra sự kiểm soát chặt chẽ hơn với hoạt động này, đảm bảo việc sử dụng thuốc phải trên cơ sở an toàn, hợp lý và hiệu quả. Nội dung cụ thể được ghi nhận tại Điều 9, Điều 52 Luật Dược 2005 và đầy đủ nhất tại Điều 5 TT 13/2009/TT-BYT, theo đó các hành vi bị nghiêm cấm:

-Quảng cáo thuốc kê đơn, vắc xin, sinh phẩm y tế dùng để phòng bệnh, thuốc không phải kê đơn nhưng được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khuyến cáo bằng văn bản sử dụng hạn chế hoặc sử dụng có sự giám sát của thầy thuốc;

- Thông tin, quảng cáo mỹ phẩm, thực phẩm chức năng và các sản phẩm không phải là thuốc với nội dung có thể khiến người tiêu dùng hiểu nhầm sản phẩm đó là thuốc;

-Sử dụng lợi ích vật chất hay tài chính dưới mọi hình thức để tác động tới thầy thuốc, người dùng thuốc nhằm thúc đẩy việc kê đơn, sử dụng thuốc;

-Lợi dụng sổ đăng ký cho phép lưu hành thuốc của Cục Quản lý dược, của cơ quan quản lý dược nước khác để quảng cáo thuốc nhằm trốn tránh sự thẩm định của các cơ quan chuyên môn của Việt Nam;

- Sử dụng danh nghĩa, biểu tượng, hình ảnh, địa vị, uy tín, thư tín của tổ chức y, dược, của cán bộ y tế, thư cảm ơn của bệnh nhân để quảng cáo, khuyên dùng thuốc;

>> Xem thêm:  Luật sư Tư vấn thành lập công ty phân phối Dược phẩm và Thực phẩm chức năng ?

- Lợi dụng hình thức thầy thuốc hướng dẫn cách phòng bệnh, chữa bệnh hoặc hướng dẫn sử dụng thuốc bằng các bài viết trên báo, bằng các phương tiện phát thanh, truyền hình để quảng cáo thuốc;

- Sử sụng các loại kết quả nghiên cứu lâm sàng chưa đủ cơ sở khoa học, chưa đủ bằng chững y học để thông tin, quảng cáo thuốc;

- Lợi dụng kết quả kiểm nghiệm, các chứng nhận do cơ quan có thẩm quyền cấp, huy chương do hội trợ triển lãm cấp cho sản phẩm và/hoặc đơn vị để quảng cáo thuốc;

-Quảng cáo thuốc có nội dung không phù hợp với thuần phong, mỹ tục Việt Nam;

- Phát hành cho công chúng tài liệu thông tin thuốc cho cán bộ y tế;

- Dùng câu, chữ, hình ảnh, âm thanh gây nên các ấn tượng kiểu sau đây cho công chúng: thuốc này là số 1, là tốt hơn tất cả, sử dụng thuốc này là biện pháp tốt nhất, sử dụng thuốc này không cần ý kiến của thầy thuốc, thuốc này hoàn toàn vô hại, không có tác dụng phụ, không có chống chỉ định;

- So sánh ý đồ quảng cáo thuốc của mình tốt hơn thuốc, hàng hóa của tổ chức, các nhân khác;

- Quảng cáo thuốc chưa được cấp sổ dăng ký hoặc sổ đăng ký đã hết hiệu lực; quảng cáo thuốc khi chưa nộp hồ sơ đăng ký quảng cáo thuốc tại cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, không đúng với nội dung đã đăng ký hay đang trong thời gian xem xét, giải quyết hồ sơ theo quy định.

 

3. Khuyến mại thuốc chữa bệnh cho người

>> Xem thêm:  Dịch vụ đăng ký khuyến mại - Các vấn đề pháp lý liên quan đến đăng ký khuyến mại

3.1. Nghị định 37/2006 của Chính phủ quy định vềkhuyến mại thuốc

Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định” (Khoản 1 Điều 88 LTM 2005)

Khoản 7 Điều 4 của Nghị định 37/2006/NĐ – CP ngày 4 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại quy định,  “ Không khuyến mại thuốc chữa bệnh cho người, kể cá các loại thuốc đã được phép lưu thông để khuyến mại”.

Thuốc có những đặc điểm riêng, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của con người nên không thể dùng thuốc làm đối tượng của khuyến mại.Quy định này giúp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng , những người trực tiếp sử dụng thuốc.

*)Khó khăn đối với các doanh nghiệp dược

Quy định trên

Bên cạnh đó, việc cấm khuyến mãi thuốc ở khâu bán buôn giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp là chưa phù hợp với Luật Thương mại có hiệu lực từ ngày 1/1/2006. Tại khoản 7, điều 100 quy định rõ các hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mãi, có ghi “cấm khuyến mãi tại trường học, bệnh viện, trụ sở của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân”. Điều này có nghĩa là cấm các hành vi khuyến mãi tại các địa điểm cụ thể nêu trên, chung cho các loại hàng hoá chứ không cấm khuyến mãi đối với một loại hàng hoá cụ thể nào. Thuốc chữa bệnh cũng là một loại hàng hoá, do đó sẽ không bị cấm khuyến mãi theo quy định của Luật Thương mại.

Ông Doanh cũng cho rằng, theo quy định đó thì ở nơi thương mại, khâu bán buôn giữa các DN dược có đủ điều kiện, đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc thì việc khuyến mãi thuốc là một hoạt động xúc tiến thương mại thông thường, phù hợp với quy định tại điều 1 của Nghị định 37/2006/NĐ – CP:  “một số hoạt động xúc tiến thương mại, bao gồm khuyến mãi; quảng cáo thương mại, hội chợ triển lãm thương mại”.

Bên cạnh đó, theo Luật Dược, tại điều 9 quy định những hành vi bị cấm, khoản 8 chỉ quy định cấm “khuyến mãi thuốc trái với quy định của pháp luật”, không có nội dung cấm dùng thuốc để khuyến mãi ở khâu bán buôn. Còn tại khoản c, mục 1, điều 4, Nghị định 59/2006/NĐ – CP ngày 12/6/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện thì “các thuốc dùng cho người” là hàng hoá dịch vụ kinh doanh có điều kiện cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thì việc khuyến mãi ở khâu bán buôn giữa các doanh ngiệp với doanh nghiệp là hoạt động xúc tiến thương mại thông thường.

Dược sĩ Nguyễn Quý Sơn - Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty Dược Việt Nam cho rằng,  quy định cấm dùng thuốc để khuyến mãi ở khâu bán buôn giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp thì các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuốc sẽ không phát triển được và như vậy là không phù hợp với chính sách của Nhà nước về phát triển sản xuất thuốc trong nước. Bởi các doanh nghiệp muốn phát triển được phần lớn dựa vào bán buôn, mà trong bán buôn thì phải có giới thiệu sản phẩm, khuyến mãi... góp phần gia tăng doanh số tiêu thụ sản phẩm, phát triển sản xuất kinh doanh. Điều đó đã góp phần nâng tỷ trọng thuốc sản xuất trong nước từ 30 lên 50% vào năm 2008. Tuy nhiên, quy định tại khoản 7, điều 4 của Nghị định 37 nên các doanh nghiệp trong nước đang thực hiện khuyến mãi thuốc ở khâu bán buôn giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp đã bị coi là vi phạm quy định tại nghị định này và đã bị các cơ quan kiểm toán, thuế trung ương và địa phương xử lý, xuất toán. Chỉ riêng 10 doanh nghiệp trong năm 2006 đã bị xuất toán hơn 5,5 tỷ đồng. Điều này không chỉ tổn thất về kinh tế cho các doanh nghiệp mà còn “làm khó” cho họ trong việc phát triển thị trường.

 

>> Xem thêm:  Thủ tục xin cấp giấy phép quảng cáo mới nhất

3.2.Nghị định 68/2009 của Chính phủ quy định về khuyến mại thuốc

Trước thực trạng trên, nhằm gỡ vướng cho các doanh nghiệp kinh doanh thuốc , Chính phủ đã ban hành Nghị định 68/2009/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 7, Điều 4, Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 4/4//2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại.

Theo đó, Nghị định 68/2009/NĐ-CP quy định:

“không được dùng thuốc chữa bệnh cho người, kể cả các loại thuốc đã được phép lưu thông, để khuyến mại, trừ trường hợp khuyến mại cho thương nhân kinh doanh thuốc”.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/10/2009.

Với quy định trên đã cho phép khuyến mại trong trường hợp khuyến mại cho thương nhân kinh doanh thuốc. Lúc này, đứng trên phương diện thương nhân kinh doanh thuốc thì khuyến mại thuốc cũng giống như một khuyến mại thương mại thông thường, chịu sự điều chỉnh của pháp luật thương mại quy định về khuyến mại. Cần lưu ý về chủ thể: Chủ thể khuyến mại và chủ thể được khuyến mại đều là thương nhân, và phải đăng kí kinh doanh với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lĩnh vực kinh doanh thuốc chữa bệnh cho người. Bởi thuốc là loại hàng hóa đặc biệt, có những đặc điểm đặc thù không giống loại hàng hóa thông thường.

Các hình thức khuyến mại được pháp luật thương mại cho phép thương nhân thực hiện việc khuyến mại thuốc như: Hàng mẫu ( đưa hàng mẫu, cung ứng hàng mẫu cho các doanh nghiệp kinh doanh thuốc dùng thử không phải trả tiền nhằm quảng bá và giới thiệu sản phẩm của họ, hàng mẫu này có thể đang bán hoặc sẽ được bán trên thị trường), Quà tặng ( tặng quà không thu tiền đối với các doanh nghiệp kinh doanh thuốc nhằm khuyến khích sự liên kết xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm khai thác lợi ích tối đa), Giảm giá ( bán hàng, cung ứng thuốc trong thời gian khuyến mại với giá thấp hơn giá bán, cung ứng dịch vụ bình thường trước đó được áp dụng khuyến mại mà thương nhân đã đăng ký hoặc đã thông báo. Hạn mức giảm giá đối với thuốc được Chính Phủ quy định cụ thể theo từng loại để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, chống hành vi bán phá giá) …

 

4. Hoàn thiện quy định pháp luật về quảng cáo, khuyến mại thuốc cho người

-Ràng buộc trách nhiệm đối với các nhà cung cấp phương tiện quảng cáo như báo, đài, mạng thông tin máy tính. Việc quy trách nhiệm liên đới giữa nhà sản xuất, kinh doanh thuốc với các nhà cung cấp phương tiện quảng cáo là cần thiết. Bởi hiện nay, tình trạng vi phạm phổ biến là quảng cáo không có giấy phép hoặc quảng cáo không đúng nội dung đã xin phép. Quy định này giúp cho thắt chặt sự quản lýcủa BYT, Cục Quản lý dược với các hành vi vi phạm có sự giúp sức của cả các thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo, người phát hành quảng cáo.

-Tăng nặng chế tài xử phạt với các cá nhân, đơn vị vi phạm pháp luật quảng cáo thuốc bởi thiếu chế tài xử phạt hợp lý chính là một trong những nguyên nhân khiến cho việc thực hiện pháp luật về quảng cáo thuốcchưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Các chế tài xử phạt tại  khoản 10, Điều 30 và Điều 33 TT 13/2009/TT-BYT vẫn còn chung chung, chưa cụ thể khiến các hành vi vi phạm lợi dụng để lách luật, trong thực tế, hầu như mọi trường hơp vi phạm chỉ dừng lại ở mức độ phạt hành chính. Do đó, các quy định xử lý vi phạm cần được sưả đổi theo hướng chặt chẽ hơn,phạt nặng hơn. Biện pháp ngừng tiếp nhận hồ sơ đăng ký quảng cáo thuốc nên được áp dụng với tất cả các hành vi vi phạm chứ không nên chỉ dừng lại trong trường hợp vi phạm khoản 14 Điều 5 TT 13/2009/TT-BYT. Ngay cả việc công bố nội dung vi phạm cũng nên được thực hiện trên phạm vi rộng hơn. Ngoài website của Cục Quản lý Dược, nội dung vi phạm cũng như danh tính cá nhân, đơn vị cùng sản phẩm vi phạmcũng cần đưa lên các phương tiện thông tin đại chúng một cách rộng rãi để công chúng không chỉ được đính chính về thông tin sai lệch mà còn tự bảo vệ quyề lợi của mình bằng cách tẩy chay sản phẩm thuốc đó. Mức xử phạt hành chính cần được điều chỉnh theo hướng nghiêm khắc và nặng hơn so với những hành vi vi phạm trong các lĩnh vực khác chứ không thể đợi đến lúc những thông tin quảng cáo gây sai lệch gây ra những hậu quả nghiêm trọng rồi mới truy ứu trách nhiệm hình sự, bởi ở đây không gay hậu quả kinh tế mà là sức khỏe, tính mạng con người. Việc áp dụng các mức phạt cũng cần được quy định cụ thể, rõ ràng, thuận tiện cho việc áp dụng hơn.

-Nâng cao ý thức và hiểu biết pháp luật về quảng cáo thuốc thông qua các hoạt động giáo dục, tuyên truyền tại các cơ quan, trường học hoặc trên các phương tiện thông tin đại chúng, áp phích, tờ rơi…Các cơ quan chức năng còn có thể tổ chức cuộc thi tìm hiểu, qua đó khuyến khích người dân và doanh nghiệp tiếp cận với pháp luật về quảng cáo thuốc. Bên cạnh việc xử lý vi phạm cũng cần khên thưởng, tuyên dương kịp thời những đơn vị thực hiện đúng pháp luật quảng cáo thuốc.

-Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật quảng cáo thuốc bởi hiện nay, mặc dù vẫn có những đợt kiểm ttra đột xuất song hoạt động thanh tra, kiểm tra chủ yếu vẫn được tổ chức thực hiện mỗi năm một lần theo lịch trình là quá ít so với tình hình các vi phạm quảng cáo thuốc hiện nay, không thể nắm bắt được kết quả thực. Do đó, để tăng cường hiệu quả hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật quảng cáo thuốc, cần thành lập các cơ quan chuyên trách về quảng cáo thuốc, trên cơ sở tham khảo mô hình quản lý quảng cáo thuốc ở các nước có ngành quảng cáo thuốc phát triển và phù hợp với các điều kiện, đặc điểm của Việt Nam, cần có sự hỗ trợ chặt chẽ của các đơn vị, cá nhân có chuyên môn nghiệp vụ về dược. Hoạt động kiểm tra, giám sát phải được tiến hành bởi những cá nhân có kiến thức chuyên  môn không chỉ về quảng cáo thương mại nói chung mà còn nắm rõ các quy định hiện hành về quảng cáo thuốc.

>> Xem thêm:  Thủ tục đăng ký hoạt động khuyến mại theo quy định mới nhất 2020 ?

-Tăng cường sự phối hợp với các cơ quan chức năng, đặc biệt là phòng quản lý nghiệp vụ văn hóa-Thông tin, Phòng Văn hóa-Thông tin các quạn, huyệnđể kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm, nâng cao ý thức của các đơn vị quảng cáo thuốc.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./. 

Bộ phận tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê 

>> Xem thêm:  Không đăng ký chương trình khuyến mại có được đưa vào chi phí hợp lý hàng hóa khuyến mại hay không ?