1. Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO

1.1. Tổng quan chung về Hiệp định

Hiệp định đầu tiên về trợ cấp có hiệu lực năm 1979 và chỉ có một số lượng hạn chế thành viên của GATT tham gia ký kết. Trong giai đoạn cuối của Vòng đàm phán Uruguay (1986-1994), Hiệp định SCM ra đời và có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1995.

Không như phiên bản Hiệp định trước đó, Hiệp định này quy định định nghĩa về trợ cấp “riêng biệt” – trong hầu hết các trường hợp, là trợ cấp áp dụng riêng đối với một doanh nghiệp, một nhóm doanh nghiệp hoặc một nhóm ngành trong phạm vi quyền hạn của các cơ quan có thẩm quyền cấp trợ cấp. Hiệp định đưa ra các nguyên tắc xác định trợ cấp riêng biệt.

1.2. Trợ cấp và biện pháp đối kháng

Trợ cấp Theo Điều 1 Hiệp định SCM, trợ cấp được coi là tồn tại nếu có sự đóng góp tài chính của Chính phủ hoặc một cơ quan công cộng trên lãnh thổ của một Thành viên và đem lại lợi ích cho đối tượng được nhận trợ cấp. Từ đó Hiệp định phân loại thành 3 loại trợ cấp dựa trên tác động đối với thương mại của chúng: trợ cấp bị cấm, trợ cấp có thể đối kháng và trợ cấp không bị đối kháng.

  • Trợ cấp bị cấm (đèn đỏ): là các khoản trợ cấp yêu cầu người nhận phải đáp ứng được những mục tiêu xuất khẩu nhất định, hoặc phải sử dụng hàng trong nước thay cho hàng nhập khẩu. Chúng bị cấm vì chúng được xây dựng nhằm làm biến dạng thương mại quốc tế, và do đó có khả năng tác động tiêu cực đến trao đổi thương mại của các thành viên khác. Những trợ cấp này phải bị dỡ bỏ dần theo một thời gian biểu quy định. Chúng có thể bị đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO nếu không tuân theo thời gian biểu dỡ bỏ đó. Nếu cơ chế giải quyết tranh chấp kết luận rằng một khoản trợ cấp thuộc nhóm bị cấm, khoản trợ cấp đó phải được dỡ bỏ ngay lập tức. Nếu không được dỡ bỏ, nước nguyên đơn có thể có những biện pháp phản kháng lại khoản trợ cấp đó. Trong trường hợp ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại bởi hàng nhập khẩu được trợ cấp, thuế chống trợ cấp có thể được áp dụng đối với hàng nhập khẩu (biện pháp trả đũa)';
  •  Trợ cấp có thể đối kháng (đèn vàng): Hiệp định quy định rằng không một thành viên nào thông quả việc sử dụng trợ cấp gây ra tác động có hại nghiêm trọng đến quyền lợi của của thành viên khác, như gây tổn hại cho một ngành sản xuất nội địa của thành viên khác, làm vô hiệu hoặc gây phương hại đến quyền lợi mà thành viên khác được hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp từ Hiệp định GATT 1994. Thiệt hại nghiêm trọng là thiệt hại trong trường hợp tổng giá trị trợ cáp theo trị giá cho một sản phẩm vượt quá 5%. Trong trường hợp này, bên trợ cấp có nghĩa vụ chứng minh rằng những trợ cấp đó không gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến bên khiếu nại. Những thành viên bị ảnh hưởng bởi biện pháp trợ cấp tiêu cực có thể đưa lên cơ quan giải quyết tranh chấp. Trong trường hợp cơ quan giải quyết tranh chấp đưa ra phán quyết có tồn tại tác động tiêu cực, bên trợ cấp phải thu hồi lại khoản trợ cấp hoặc xóa bỏ những tác động tiêu cực này;
  •  Trợ cấp không thể đối kháng (đèn xanh): có thể là trợ cấp không mang tính riêng biệt hoặc mang tính chất riêng biệt bao gồm hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu công nghiệp và hoạt động phát triển tiền cạnh tranh, hỗ trợ cho các vùng miền khó khăn, hỗ trợ nhằm xúc tiến nâng cấp những phương tiện hạ tầng hiện có cho phù hợp với yêu cầu mới về môi trường do luật pháp, hay các quy định đặt ra. Nếu một thành viên cho rằng trợ cấp không thể đối kháng khác sẽ dần đến những tác động tiêu cực nghiêm trọng đến ngành công nghiệp nội địa, thành viên đó có thể yêu cầu đưa ra phán quyết và khuyến cáo về vấn đề này;

Các biện pháp đối kháng :Trợ cấp “đèn đỏ” hoặc trợ cấp “đèn vàng” gây ra thiệt hại có thể bị khiếu kiện thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO hoặc bị điều tra đánh thuế đối kháng. Tiến trình áp dụng thuế đối kháng chỉ có thể được thực hiện khi có thiệt hại xảy ra. Trong các trường hợp khác, biện pháp đối kháng duy nhất là thông qua tiến trình giải quyết tranh chấp của WTO.

Thủ tục điều tra và áp dụng thuế đối kháng:

  • Một “vụ kiện” chống trợ cấp là một quy trình Kiện – Điều tra – Kết luận – Áp dụng biện pháp chống trợ cấp (còn gọi là biện pháp đối kháng) mà nước nhập khẩu tiến hành đối với một loại hàng hóa nhập khẩu từ một nước nhất định khi có những nghi ngờ rằng hàng hóa được trợ cấp (trừ trợ cấp đèn xanh) và gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu.
  •  Mặc dù thường được gọi là “vụ kiện” (theo cách gọi ở Việt Nam), đây không phải thủ tục tố tụng tại Tòa án mà là một thủ tục hành chính và do cơ quan hành chính nước nhập khẩu  thực hiện. Thủ tục này liên quan đến một bên là ngành sản xuất nội địa và một bên là các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài. Khác với thủ tục kiện chống bán phá giá, kiện chống trợ cấp liên quan đến cả Chính phủ nước xuất khẩu (vì liên quan đến khoản trợ cấp của Chính phủ). Khi cơ quan hành chính ra quyết định cuối cùng về việc áp dụng hay không áp dụng biện pháp chống trợ cấp, các bên không đồng ý với quyết định này có thể kiện cơ quan này ra Tòa án có thẩm quyền của nước nhập khẩu.

Căn cứ điều tra chống trợ cấp:

 Hiệp định SCM quy định cuộc điều tra chống trợ cấp trên cơ sở những bằng chứng về sự tồn tại của trợ cấp, thiệt hại gây ra bởi trợ cấp và mối quan hệ nhân quả giữa nhập khẩu được trợ cấp và thiệt hại đó.

  • Khởi kiện

Ngành sản xuất sản phẩm tương tự tại nước nhập khẩu, hoặc của một nhóm các nhà sản xuất đại diện cho ngành đó, cơ quan điều tra của nước nhập khẩu có thể tự quyết định bắt đầu tiến hành điều tra. Hồ sơ chỉ được coi là thoả mãn yêu cầu về tính đại diện cho ngành sản xuất liên quan.

  • Quá trình điều tra

Thời hạn điều tra là 12 tháng, và chỉ được kéo dài tới tối đa là 18 tháng kể từ khi chính thức bắt đầu điều tra.

Các bước gồm:

- Quyết định điều tra:

- Điều tra sơ bộ qua bảng câu hỏi gửi cho các bên liên quan, thu thập, xác minh thông tin, thông tin do các bên tự cung cấp.

- Kết luận sơ bộ:

- Tiếp tục điều tra: tại lãnh thổ nước xuất khẩu hoặc tại cơ sở của nhà sản xuất hoặc xuất khẩu nước ngoài

- Kết luận cuối cùng và áp dụng biện pháp chống trợ cấp

Các biện pháp tạm thời: Biện pháp tạm thời có thể dưới hình thức thuế chống trợ cấp tạm thời được bảo đảm bằng một khoản tiền đặt cọc hoặc cam kết nộp với giá trị tương đương với mức trợ cấp tạm tính.

Cam kết: Cam kết là sự tự nguyện giữa các nước, nếu các nước thỏa thuận được thì quá trình điều tra có thể bị đình chỉ hay chấm dứt mà không áp dụng các biện pháp tạm thời hay thuế đối kháng

 Nguyên tắc áp dụng và rà soát thuế đối kháng:

Không phải cứ có hiện tượng hàng hóa nước ngoài được trợ cấp là nước nhập khẩu có thể áp dụng thuế đối kháng đối với hàng hóa đó.

Theo quy định của WTO thì việc áp dụng các biện pháp đối kháng (mà chủ yếu là thuế đối kháng) chỉ có thực hiện nếu cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu, sau khi đã tiến hành điều tra chống trợ cấp, ra kết luận khẳng định sự tồn tại đồng thời của cả 3 điều kiện sau: (1) Hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp (với biên độ trợ cấp – tức là trị giá phần trợ cấp trên trị giá hàng hóa liên quan – không thấp hơn 1%); (2) Ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu bị thiệt hại đáng kể hoặc bị đe dọa thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản đáng kể sự hình thành của ngành sản xuất trong nước (gọi chung là yếu tố thiệt hại); (3) Có mối quan hệ nhân quả giữa trợ cấp và thiệt hại nói trên.

Mức thuế đối kháng không được cao hơn giá trị trợ cấp; áp dụng trên cơ sở không phân biệt đối xử. Hiệp định SCM quy định thời hạn áp dụng thuế đối kháng tối đa là 5 năm kể từ ngày bắt đầu áp dụng hoăc kéo dài thêm 5 năm nếu cơ quan điều tra tiến hành rà soát thấy vẫn cần áp dụng thuế đối kháng.

1.3. Giải quyết tranh chấp về trợ cấp thông qua WTO

Nếu không đạt được một giải pháp được các bên chấp nhận trong quá trình tham vấn, thì các Thành viên trong vụ tranh chấp về trợ cấp có thể đưa vấn đề ra Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB). Thời gian giải quyết khác nhau tùy thuộc vào vụ tranh chấp đối với loại trợ cấp nào. Các biện pháp đưa ra có thể là: khuyến nghị điều chỉnh hoặc loại bỏ trợ cấp, hoặc cho phép bên khiếu nại áp dụng thuế đối kháng, hoặc cho phép áp dụng biện pháp trả đũa.

1.4. Đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các Thành viên

Nhóm các Thành viên đang phát triển: Những ưu đãi này bao gồm: Ưu đãi về việc sử dụng trợ cấp bị cấm và phải đình chỉ điều tra không vượt quá 2%, 3% đối với các nước trong Phụ lục VII; hoặc nếu khối lượng hàng nhập khẩu được trợ cấp chỉ chiếm dưới 4% tổng sản phẩm nhập khẩu hàng hóa tương tự.

Các nước có nền kinh tế chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường Đối với các chương trình trợ cấp bị cấm, các Thành viên này được loại bỏ dần và điều chỉnh cho phù hợp trong vòng 7 năm, kể từ ngày Hiệp định WTO bắt đầu có hiệu lực. Ngoài ra, các chương trình trực tiếp xoá nợ như xóa một khoản nợ Nhà nước hay cấp kinh phí để thanh toán nợ không coi là trợ cấp có thể đối kháng. Ngoài ra, cơ quan điều tra sẽ sử dụng giá và chi phí sản xuất của hàng hóa tại một nước thứ ba hay một nước thay thế nào đó để làm cơ sở tính toán cho giá thông thường.

2. Pháp luật vè trợ cấp và biên pháp đối kháng của một số nước

Hệ thống văn bản pháp luật về trợ cấp Một số nước như Thụy Sỹ, Nhật Bản… áp dụng trực tiếp các quy định của WTO. Nhiều nước lựa chọn cách xây dựng hệ thống văn bản riêng phù hợp với các chuẩn mực của WTO. 

2.1. Khái niệm về trợ cấp

Hoa Kỳ quy định trợ cấp xuất khẩu phụ thuộc vào xuất khẩu đồng thời có hạn chế cụ thể, chặt chẽ với trợ cấp đèn xanh. EC xác định “tính riêng biệt” theo cách khá rộng. Trung Quốc không phân loại trợ cấp một cách cụ thể như Hiệp định SCM mà chỉ đề cập đến các loại trợ cấp mang tính riêng biệt là đối tượng chống trợ cấp.

2.2. Xác định thiệt hại của trợ cấp

Xác định mức độ trợ cấp Hoa Kỳ sử dụng phương pháp “chọn mẫu ngẫu nhiên” trong việc lựa chọn các bị đơn bắt buộc. Ngoài ra, mức trợ cấp “không đáng kể” chỉ áp dụng trong giai đoạn điều tra, còn khi rà soát lại thuế chống trợ cấp thì áp dụng mức 0,5%. EU không đánh thuế chống trợ cấp đối với nhà xuất khẩu hợp tác với EC trong quá trình điều tra nếu biên độ trợ cấp bằng hoặc thấp hơn mức “không đáng kể”; Trường hợp biên độ trợ cấp của một số nhà xuất khẩu cao hơn mức “không đáng kể” trong khi một số nhà xuất khẩu khác lại thấp hơn mức này: EC sẽ tính biên độ trợ cấp chung cho nước xuất khẩu. EU đánh thuế chống trợ cấp còn dựa trên căn cứ về lợi ích của Khối trong việc đánh thuế chống trợ cấp.

Xác định mức độ thiệt hại: theo luật Hoa Kỳ, thiệt hại vật chất phải là những thiệt hại có nguyên nhân từ trợ cấp, hữu hình và có quy mô đáng kể. EC không định nghĩa khái niệm “thiệt hại đáng kể” mà nêu ra danh sách các căn cứ để xác định sự tồn tại của nó. Trung Quốc quy định xem xét thêm các yếu tố: năng lực sản xuất, lượng hàng tồn kho của sản phẩm được trợ cấp đang bị điều tra; các yếu tố khác gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước.

Xác định mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu được trợ cấp và thiệt hại: DOC không xét đến các tác động về giá và khối lượng của trợ cấp. Khi tăng hàng nhập khẩu cùng với tình hình kinh tế xấu đi đối với nguyên đơn, EU có xu hướng tự động giả định sự tồn tại của mối quan hệ nhân quả giữa hai dữ kiện.

Xác định nền kinh tế phi thị trường và lựa chọn nước thay thế: DOC quyết định một nước có bị coi là có nền kinh tế phi thị trường dựa trên các tiêu chí: Mức độ chuyển đổi của đồng nội tệ; Mức độ kiểm soát các phương tiện sản xuất của Chính phủ; Mức độ kiểm soát việc phân bổ các nguồn lực, quyết định giá cả và sản lượng của Chính phủ; Các tiêu chí khác do DOC đưa ra. EC cũng đưa ra một số tiêu chí như: Quyết định liên quan đến giá cả và chi phí đầu vào không có sự can thiệp quá nhiều từ phía Chính phủ và phản ánh đáng kể giá trị thị trường; Có hệ thống sổ sách kế toán theo các tiêu chuẩn kế toán quốc tế, được kiểm toán độc lập .. Hoa Kỳ quy định nước thay thế là nước có nền kinh tế thị trường, có trình độ phát triển tương đương với nước bị kiện và là nước sản xuất đáng kể mặt hàng tương tự như mặt hàng đang bị điều tra. EC sử dụng khái niệm “quốc gia tương tự” là một nước có nền kinh tế thị trường và có các tiêu chuẩn so sánh phù hợp, nhưng không nhất thiết phải có trình độ phát triển tương đương với nước có nền kinh tế phi thị trường có mặt hàng đang bị điều tra.

2.3. Thủ tục chống trợ cấp một số nước

Hoa Kỳ quy định hồ sơ đề nghị chi tiết hơn so với Hiệp định SCM. Các bên liên quan cũng có điểm cụ thể hơn và mở rộng hơn. Thời gian cho một vụ kiện là 212 ngày và chỉ có hiệu lực khi cả ITA và ITC đều đưa ra phán quyết. Hoa Kỳ xác định mức thuế cụ thể cho từng nhà xuất khẩu. Đối với những nhà xuất khẩu không được điều tra riêng, áp dụng mức bình quân của các mức thuế đã xác định. Ở EU: Chỉ có một cơ quan điều tra về mức trợ cấp và thiệt hại là EC; Đề xuất áp dụng thuế chống trợ cấp có thể bị phủ quyết nếu đa số các nước thành viên phản đối. Cơ quan điều tra của EU linh hoạt hơn của Hoa Kỳ. Cả quá trình điều tra một vụ chống trợ cấp của EU (chưa bao gồm quá trình điều tra rà soát sau khi áp thuế) kéo dài khoảng 12 tháng hoặc hơn.

Thực tiễn chống trợ cấp:

Hoạt động trợ cấp của các nước: Các nước đều sử dụng trợ cấp với mức độ, đối tượng khác nhau, phần lớn thông qua ưu đãi thuế, ưu đãi đầu vào sản xuất.Các nước Âu Mỹ, ngoài hoạt động cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu trong nước, bảo đảm tín dụng xuất khẩu còn cung cấp cho nhà nhập khẩu nước ngoài. Nhóm nước Châu Á hoạt động tín dụng xuất khẩu tập trung vào việc cho doanh nghiệp xuất khẩu vay với lãi suất ưu đãi.

Thực hiện pháp luật chống trợ cấp một số nước: Trước những năm 1970, việc áp dụng thuế chống trợ cấp chưa phổ biến. Giai đoạn 1995-2010 có tổng cộng 245 vụ điều tra chống trợ cấp, chủ yếu là các cuộc điều tra ngành hóa chất và kim loại, thực hiện nhiều nhất ở Hoa Kỳ (khởi xướng 105 vụ) và EU (khởi xướng 57 vụ). Trung Quốc và Ấn Độ là những nước bị áp dụng thuế chống trợ cấp nhiều nhất, hai nước này chiếm 35,8%.