1. Pháp luật thực định là gì?
Pháp luật thực định (positive law) là tổng thể các quy phạm pháp luật hiện hành đang có hiệu lực pháp luật của một nhà nước ở một thời điểm nhất định.
2. Đặc trưng cơ bản của pháp luật thực định
Luật thực định là một hiện tượng mang tính lịch sử, xuất hiện khi nhà nước ra đời. Pháp luật là những quy định mang tính bắt buộc của nhà nước và được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế. Đây là hoạt động theo ý chí của con người và không mang tính thần thánh. Các nhà triết học lừng danh như Thomas Hobbes, John Austin và Jeremy Benthem đều ủng hộ học thuyết này. Theo Thomas Hobbes, pháp luật do con người tạo ra để chống lại chính tính ác của con người và pháp luật phải duy trì được trật tự và ổn định xã hội. Jeremy Benthem (người sáng lập ra thuyết Vị lợi) và John Austin (người ủng hộ thuyết Vị lợi) bổ sung thêm tính thực tiễn của pháp luật khi cho rằng mục đích của pháp luật chính là tạo ra hạnh phúc lớn nhất cho con người.
Luật thực định có bản chất là mang tính ý chí của nhà cầm quyền (thuật ngữ “thực định” – “positive”đã mang hàm ý đặt định cho hành vi). Luật thể hiện mệnh lệnh của nhàcầm quyền, do đó, nó mang tính quyền lực và mang tính hiệu quả. Ở đây có một câu hỏi đặt ra là: quyền lực tạo ra pháp luật hay pháp luật tạo ra quyền lực? Theo Phillipe Nonet, pháp luật chính là nền tảng của quyền lực. Theo Holmes, luật mang tính dự báo cho các chủ thể những yêu cầu hoặc những ngăn cấm mà nhà nước đưa ra và pháp luật có liên quan chặt chẽ đến đạo đức và chính trị.
Với Kelsen, những sản phẩm của hoạt động (ban hành văn bản) mang tính pháp lý từ cơ quan lập pháp và tư pháp đều thuộc về pháp luật;đóchính lànhững quy phạm pháp luật . Quan điểm này một phần đúng với quan điểm pháp lý phổ biến ở Việt Nam. Sở dĩ nói một phần là bởi pháp luật Việt Nam chủ yếu hình thành qua hoạt động lập pháp hơn là tư pháp “Pháp luật là… hệ thống các quy tắc xử sự, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động… do nhà nước… ban hành và bảo đảm thực hiện mang sức mạnh cưỡng chế của nhà nước trên cơ sở giáo dục và thuyết phục mọi người tôn trọng và thực hiện”.Chỉ trong thời gian gần đây, khi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28 tháng 10 năm 2015 về Quy trình Lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ (có hiệu lực thi hành 16/12/2015) được ban hành thì vai trò xây dựng pháp luật của cơ quan tư pháp mới được khẳng định rõhơn.
Trở lại vấn đề pháp luật thực định, chúng ta thấy theo cách hiểu phổ biến hiện nay, khi sử dụng thuật ngữ “pháp luật” hay “pháp luật của một quốc gia cụ thể” thì có nghĩa là những quyđịnh mang tính pháp lýdo chính quốc gia đó ban hành với những chuẩn mực nhất định. Các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp đóng vai trò tiên quyết trong việc hình thành các quy phạm mang tính bắt buộc chung.Pháp luật thực định phải có những đặc tính cụ thể. Thứ nhất, nó thể hiện ý chí của giai cấp thống trị – ý chí mang tính chính trị. Ý chí của giai cấp thống trị thể hiện qua việc định hình cả nội dung và hình thức của pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật bị ảnh hưởng lớn bởi hình thức chính thể nhà nước. Pháp luật có thể khác biệt rõ trong các hình thức nhà nước độc tài, cộng hòa hay quânchủ. Thứ hai, pháp luật mang tính quy phạm cho hành vi xử sự của con người. Đây được xem là quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung cho tất cả các chủ thể thông qua sự cưỡng chế của nhànước.Thứ ba, pháp luật có đặc tính mô tả và giải thích.Pháp luật phải thể hiện được những sự vật thực tếvàhướng dẫn hành vi con người. Điều này có thể hiểu là khách thể – những quan hệ xã hội – phải được xác định. Những quan hệ xã hội mà pháp luật muốn điều chỉnh phải rõ ràng và xảy ra trong hiện thực khách quan. Những suy luận phi thực tiễn không thuộc phạm trù của pháp luật.
3. Hệ thống pháp luật thực định ở Việt Nam
3.1 Hệ thống pháp luật thực định là gì ?
Khái niệm hệ thống pháp luật có thể được hiểu theo nghĩa là hệ thống pháp luật thực định của một quốc gia, Ví dụ: hệ thống pháp luật Việt Nam. Dưới góc độ này, hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm phÁp luật có mối liên hệ nội tại và thống nhất với nhau, được phân định thành các ngành luật, các chế định pháp luật, được thể hiện trong cảc hình thức pháp luật mà cơ bản là một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, án lệ và tập quán pháp.
Hệ thống pháp luật thực định của một quốc gia có thể được xem xét trên các phương diện: Hình thức cấu trúc, nội dung và hình thức thể hiện.
– Xét về mặt hình thức cấu trúc
Hệ thống pháp luật là thể thống nhất các ngành luật, trong đó mỗi ngành luật lại được coi là một hệ thống nhỏ hơn bao gồm các chế định pháp luật và mỗi chế định lại bao gồm nhiều quy phạm pháp luật.
– Xét về mặt nội dung
Hệ thống pháp luật là sự phản ánh các điều kiện kinh tế – xã hội, truyền thống, lịch sử, phong tục, tập quán, đặc điểm tâm lý dân tộc của một đất nước trong một giai đoạn phát triển cụ thể của lịch sử. Do vậy, nội dung của hệ thống pháp luật của các nước khác nhau sẽ khác nhau và nội dung pháp luật của cùng một nước nhưng ở các giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử cũng khác nhau.
– Xét về mặt hình thức thể hiện
Hệ thống pháp luật thực định được thể hiện trong các hình thức pháp luật như tập quán pháp, án lệ, văn bản quy phạm pháp luật mà chủ yếu là trong một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao thấp khác nhau, bao gồm các văn bản luật và văn bản dưới luật.
3.2 Chất lượng hệ thống pháp luật thực định của Việt Nam hiện nay
Chất lượng của hệ thống pháp luật thực định được thể hiện ở cả hình thức và nội dung của nó. Để chất lượng đòi hỏi các văn bản pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục luật định, có tên gọi phù hợp với nội dung thể hiện, có hình thức rõ ràng, có nội dung được kết cấu chặt chẽ, logic các thuật ngữ pháp lí được sử dụng chính xác, một nghĩa, lời văn trong sáng, ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với khả năng nhận thức của quảng đại quần chúng nhân dân.
Hệ thống pháp luật có chất lượng cần thoả mãn những yêu cầu cơ bản sau:
- Toàn diện và đồng bộ: Hệ thống pháp luật toàn diễn và đồng bộ thể hiện ở cấu trúc hình thức của nó, nghĩa là hệ thống pháp luật phải có khả năng đáp ứng được đầy đủ nhu cầu điều chỉnh pháp luật trên các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội, các quy định pháp luật phải có khả năng bao quát toàn bộ đời sống xã hội, để các quan hệ xã hội quan trọng có tính điển hình, phổ biến cần có sự điều chỉnh của pháp luật thì đều có pháp luật điều chỉnh. Về kết cấu mỗi quy phạm pháp luật phải có cấu trúc logic, chặt chẽ; mỗi chế định pháp luật có đầy đủ các quy phạm pháp luật cần thiết; mỗi ngành luật có đầy đủ các chế định pháp luật theo cơ cấu của ngành; còn hệ thống pháp luật có đủ các ngành luật đáp ứng được nhu cầu phát triển của các quan hệ xã hội ở mỗi giai đoạn phát triển đất nước. Điều này đòi hỏi biệc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật không chỉ chủ trọng tới các luật về tổ chức bộ máy nhà nước. củng cố chính quyền nhân dân mà còn phải chú ý tới các luật điều chỉnh một cách toàn diện quan hệ xã hội thuộc các lĩnh vực đời sống dân sinh như dân sự, thương mại, đầu tư, môi trường,... không chỉ chú trọng tới luật nội dung mà còn phải chú ý tới luật hình thức về trình tự, thủ tục.
- Luôn thống nhất: Sự thông nhất của hệ thống pháp luật là điều kiện cần thiết bảo đảm cho sự thống nhất về mục đích của pháp luật và sự triệt để trong việc thực hiện pháp luật. Sự thống nhất của hệ thống pháp luật được thể hiện trong cả hệ thống cũng như từng bộ phận hợp thành của hệ thống ở các cấp độ khác nhau, nghĩa là giữa các ngành luât trong hệ thống pháp luật; giữa các chế định pháp luật trong ngành luật; giữa các quy phạm pháp luật trong chế định pháp luật cũng phải thống nhất. Không có các hiện tượng trùnh lặp, chồng chép, mâu thuẫn của các quy phạm pháp luật trong mỗi bộ phận và trong các bộ phân khác nhau của hệ thống pháp luật. Điều này đòi hỏi các văn bản được ban hành không chỉ bảo đảm sự thống nhất, hài hoà về nội dung mà còn phải đảm bảo tính thứ bậc về giá trị pháp lí của chúng/
- Được ban hành phù hợp: Điều này thể hiện ở nội dung của hệ thống pháp luật luôn có sự tương quan với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Có thể nói pháp luật là những nhu cầu cơ bản, điển hình và có tính phổ biến nhất trong đời sống kinh tế- xã hội được khái quát hoá, mô hình hoá dưới hình thức pháp lí cụ thể thông qua hoạt động lí trí và ý chí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do vậy, sự phù hợp của các văn bản quy phạm pháp luật mà đặc biệt là của các văn bản pháp luật với quy luât khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội là điều kiện vô cùng quan trọng bảo đảm cho tính khả thi và hiệu quả của pháp luật. Phù hợp với các quy luật và điều kiện kinh tế - xã hội sé làm cho pháp luật dễ dàng được thực hiện đồng thời cũng góp phần thúc đẩy, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế - xã hội, trường hợp ngược lại, pháp luật khó được thực hiện trên thực tế, thậm chí có thể cản trở hoặc gây ra những thiệt hại nhất định cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Trước hết các quy định pháp luật phải vừa phản ánh được những quy luật kinh tế chung vừa phản ánh được những quy luật kinh tế đặc thù của phương thức sản xuất đang tồn tại.
Tiếp đến là sự phù hợp của pháp luật với điều kiện chính trị của đất nước mà quan trọng nhất là phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng.
Trong xã hội, ngoài pháp luật còn có những công cụ khác như đạo đức, phong tục tập quán, tín điều tôn giáo,... nhữung công cụ này cùng với pháp luật luôn có tác động rất lớn lên các quan hệ xã hội. Sự tác động của các quy phạm xã hội khác nhau lên các quan hệ xã hội luôn không đơn giản, chúng có liên quan, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Pháp luật chỉ có thể phát huy được vai trò, tác dụng của mình một cách tốt nhất khi có sự tác động cùng chiều, phù hợp với những công cụ điều chỉnh khác. Do vậy, hệ thống pháp luật phải phù hợp với phong tục, tập quán, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Không chỉ phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, hệ thống pháp luật quốc gia còn phải phù hợp với pháp luật quốc tế.
- Các quy định của pháp luật phải có khả năng thực hiện được: Hệ thống pháp luật có chất lượng thì phải đảm bảo tính khả thi, nghĩa là các quy định pháp luật phải có khả năng thực hiện được trong điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội hiện tại. Điều này đòi hỏi các quy định pháp luật phải được ban hành phù hợp với trình độ phát triển của đất nước ở mỗi thời kì nhất định.
Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)