- 1. Cơ sở pháp lý
- 2. Thẻ ngân hàng là gì?
- 3. Pháp luật về sử dụng thẻ ngân hàng
- 3.1. Quy định pháp luật về đối tượng chưa đủ 18 tuổi sử dụng thẻ
- 3.2. Việc xử lý rủi ro đối với hoạt động thanh toán thẻ
- 3.3. Các hành vi bị cấm đối với việc phát hành và sử dụng thẻ ngân hàng
- 4. Trẻ em 6 tuổi có dùng Thẻ ATM không?
- 5. Ngân hàng có được cung cấp thông tin chủ tài khoản?
- 6. Trường hợp nào phải từ chối thanh toán thẻ ngân hàng
1. Cơ sở pháp lý
- Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017
- Thông tư 19/2016/TT-NHNN
- Thông tư 35/2012/TT-NHNN
- Nghị định 88/2019/NĐ-CP
2. Thẻ ngân hàng là gì?
Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ (sử dụng thẻ để gửi, rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ và sử dụng các dịch vụ khác do tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ cung ứng) theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận.
3. Pháp luật về sử dụng thẻ ngân hàng
Sử dụng thẻ là việc thực hiện các giao dịch thẻ để nộp, rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, vấn tin tài khoản hoặc sử dụng các dịch vụ khác do tổ chức cung ứng dịch vụ thẻ cung cấp (khoản 3 Điều 3 Thông tư 35/2012/TT-NHNN)
Ngân hàng phát hành thẻ có trách nhiệm “phổ biến, hướng dẫn cho khách hàng về dịch vụ thẻ, thao tác sử dụng thẻ đúng quy trình, các rủi ro có thể gặp phải khi sử dụng thẻ và cách xử lý khi gặp sự cố” và “thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn, phòng ngừa rủi ro cho giao dịch thẻ theo các nguyên tắc quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng điện tử; bảo mật thông tin liên quan đến hoạt động thẻ” (Điều 18 Thông tư 19/2016/TT-NHNN).
3.1. Quy định pháp luật về đối tượng chưa đủ 18 tuổi sử dụng thẻ
Căn cứ quy định tại Điều 16 Thông tư 19/2016/TT-NHNN, đối tượng sử dụng thẻ được quy định như sau:
Pháp luật quy định về đối tượng chưa đủ 18 tuổi được sử dụng thẻ ngân hàng như sau:
Thứ nhất, người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi nếu được người đại diện theo pháp luật đồng ý, thì được sử dụng thẻ trả trước và thẻ ghi nợ, nhưng không được thấu chi (không được sử dụng thẻ tín dụng);
Thứ hai, người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, nếu được người đại diện theo pháp luật đồng ý, thì được sử dụng thẻ phụ (theo chỉ định cụ thể của chủ thẻ chính) là thẻ trả trước, thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng;
Thứ ba, người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, nếu có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong việc sử dụng thẻ thì được sử dụng (không cần người đại diện theo pháp luật đồng ý) thẻ ghi nợ nhưng không được thấu chi, thẻ trả trước).
3.2. Việc xử lý rủi ro đối với hoạt động thanh toán thẻ
Thứ nhất, chủ thẻ phải thông báo ngay cho tổ chức phát hành thẻ khi bị mất thẻ hoặc lộ thông tin thẻ và có quyền yêu cầu tra soát khi phát hiện hoặc nghi ngờ có sai sót về giao dịch thẻ; (Điều 19 Thông tư 19/2016/TT-NHNN).
Thứ hai, khi nhận được thông báo của chủ thẻ, tổ chức phát hành thẻ phải thực hiện ngay việc khóa thẻ và phối hợp với các bên liên quan để thực hiện các biện pháp nghiệp vụ cần thiết khác nhằm ngăn chặn các thiệt hại có thể xảy ra, đồng thời thông báo lại cho chủ thẻ.
Thời hạn tổ chức phát hành thẻ hoàn thành việc xử lý thông báo nhận được từ chủ thẻ không quá 05 ngày làm việc đốì với thẻ có BIN (mã tổ chức phát hành thẻ) do Ngân hàng Nhà nước cấp hoặc 10 ngày làm việc đối vối thẻ có BIN do tổ chức thẻ quốc tế cấp, kể từ ngày nhận được thông báo của chủ thẻ. Như vậy trong thòi hạn 5-10 ngày này, thì chủ thẻ vẫn gặp nhiều rủi ro;
Thứ ba, trường hợp thẻ bị lợi dụng, gây ra thiệt hại, tổ chức phát hành thẻ và chủ thẻ phân định trách nhiệm và thương lượng cách xử lý hậu quả hoặc xử lý theo quy định của pháp luật.
Tổ chức phát hành thẻ có trách nhiệm xử lý khiếu nại của khách hàng theo các quy định sau đây: (Điều 20 Thông tư 19/2016/TT-NHNN)
Thứ nhất, phải quy định cụ thể thời hạn chủ thẻ được quyền đề nghị tra soát, khiếu nại nhưng “không ít hơn 60 ngày kể từ ngày phát sinh giao dịch”. Quy định thời hạn tối thiểu 60 ngày là bất hợp lý, đáng lẽ phải là tôì đa 60 ngày;
Thứ hai, phải áp dụng tốỉ thiểu hai hình thức tiếp nhận thông tin tra soát, khiếu nại của chủ thẻ, bao gồm qua tổng đài điện thoại (có ghi âm, hoạt động 24/24 giờ trong ngày, in ngày trong tuần) và qua các điểm giao dịch của tổ chức phát hành thẻ; bảo đảm xác thực những thông tin cơ bản mà chủ thẻ đã cung cấp;
Thứ ba, phải thực hiện ngay các biện pháp để khóa thẻ khi chủ thẻ đề nghị do nghi ngờ có gian lận hoặc tổn thất và chịu trách nhiệm vối toàn bộ tổn thất tài chính phát sinh đối với chủ thẻ do việc sử dụng thẻ sau thời điểm khóa thẻ;
Thứ tư, xây dựng mẫu giấy đề nghị tra soát, khiếu nại để chủ thẻ sử dụng;
Thứ nắm, giải quyết đề nghị tra soát, khiếu nại và trả lời kết quả cho chủ thẻ trong thời hạn 45 ngày làm việc hoặc thời hạn khác theo hợp đồng đôì với thẻ có BIN do Ngân hàng Nhà nước cấp hoặc do tổ chức thẻ quốc tế cấp;
Thứ sáu, bồi hoàn cho chủ thẻ hoặc thởa thuận xử lý theo quy định của pháp luật.
3.3. Các hành vi bị cấm đối với việc phát hành và sử dụng thẻ ngân hàng
Căn cứ quy định tại Điều 8 Thông tư 19/2016/TT-NHNN, các hành vi bị cấm đối với việc phát hành và sử dụng thẻ ngân hàng là:
Thứ nhất, làm, sử dụng, chuyển nhượng và lưu hành thẻ giả;
Thứ hai, thực hiện, tổ chức thực hiện hoặc tạo điều kiện để người khác thực hiện các hành vi giao dịch thẻ gian lận, giả mạo; giao dịch thanh toán không tại đơn vị chấp nhận thẻ (không phát sinh việc mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ);
Hành vi giao dịch thanh toán không đúng pháp luật có thể bị phạt tiền từ 100 - 150 triệu đồng đối với cá nhân và tăng gấp đôi đôi với tổ chức (khoản 7 Điều 28 Thông tư 19/2016/TT-NHNN)
Thứ ba, đơn vị chấp nhận thẻ thu phụ phí hoặc phân biệt giá khi chủ thẻ thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng thẻ;
Hành vi thu phụ phí hoặc phân biệt giá có thể bị phạt tiền từ 30 - 50 triệu đồng đối vơi cá nhân và tăng gấp đôi đối với tổ chức (khoản 5 Điều 28 Thông tư 19/2016/TT-NHNN)
Thứ tư, lấy cắp, thông đồng để lấy cắp thông tin thẻ; tiết lộ và cung cấp thông tin thẻ, chủ thẻ và giao dịch thẻ không đúng quy định của pháp luật;
Thứ năm, xâm nhập trái phép, phá hủy chương trình hoặc cơ sở dữ liệu của hệ thống phát hành, thanh toán thẻ, chuyển mạch thẻ, bù trừ điện tử giao dịch thẻ;
Thứ sáu, sử dụng thẻ để thực hiện các giao dịch cho các mục đích rửa tiền, tài trợ khủng bố, lừa đảo, gian lận và các hành vi vi phạm pháp luật khác;
Thứ bảy, đơn vị chấp nhận thẻ chuyển thiết bị chấp nhận thẻ, QR Code (mã phản hồi nhanh - Quick Response Code) cho bên khác sử dụng; chấp nhận thanh toán thẻ mà không có hợp đồng thanh toán thẻ; sử dụng trái phép các thiết bị chấp nhận thẻ, QR Code của tổ chức thanh toán thẻ;
Thứ tắm, mua, bán, thuê, cho thuê thẻ hoặc thông tin thẻ, mỗ hộ thẻ (trừ trường hợp thẻ trả trước vô danh).
4. Trẻ em 6 tuổi có dùng Thẻ ATM không?
Chào luật sư, xin luật sư cho tôi hỏi một vấn đề liên quan đến ngân hàng ạ. Đối với trẻ em 6 tuổi thì có được phép sử dụng thẻ ATM hay không? Mong sớm nhận được phản hồi từ luật sư. Xin cảm ơn!
Chào bạn, thắc mắc của bạn chúng tôi giải đáp như sau:
Theo quy định tại Điểm c Khoản 3 Điều 16 Thông tư 19/2016/TT-NHNN quy định thì:
Đối với chủ thẻ phụ: Chủ thẻ phụ được sử dụng thẻ theo chỉ định cụ thể của chủ thẻ chính nhưng chỉ trong phạm vi quy định sau đây:
+ Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật được sử dụng thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước;
+ Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự được người đại diện theo pháp luật của người đó đồng ý bằng văn bản về việc sử dụng thẻ được sử dụng thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước;
+ Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự được người đại diện theo pháp luật của người đó đồng ý bằng văn bản về việc sử dụng thẻ được sử dụng thẻ ghi nợ không được thấu chi, thẻ trả trước.
Như vậy, trẻ em 6 tuổi được phép sử dụng thẻ ATM khi đáp ứng đủ điều kiện sau:
+ Đủ 6 tuổi;
+ Không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự;
+ Được người đại diện theo pháp luật của người đó đồng ý bằng văn bản về việc sử dụng thẻ
+ Được phép sử dụng thẻ ghi nợ không được thấu chi, thẻ trả trước.
Tuy nhiên, loại thẻ mà trẻ em được phép sử dụng là thẻ phụ chứ không phải thẻ chính. Vì vậy, người dùng thẻ chính phải chịu trách nhiệm toàn bộ rủi ro khi cho trẻ sử dụng thẻ phụ như: mất thẻ, quên thẻ, việc sử dụng thanh toán của trẻ đối với thẻ,....
5. Ngân hàng có được cung cấp thông tin chủ tài khoản?
Chào công ty luật Minh Khuê, các luật sư cho tôi hỏi. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì ngân hàng có được cung cấp thông tin chủ tài khoản cho cá nhân khác không? Rất mong được giải đáp. Xin cảm ơn!
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi thắc mắc tới công ty luật Minh Khuê, thắc mắc của bạn chúng tôi nghiên cứu và giải đáp như sau:
Tại Điều 8 Thông tư 19/2016/TT-NHNN có quy định về các hành vi bị cấm trong sử dụng thẻ ngân hàng như sau:
- Làm, sử dụng, chuyển nhượng và lưu hành thẻ giả.
- Thực hiện, tổ chức thực hiện hoặc tạo điều kiện để người khác thực hiện các hành vi giao dịch thẻ gian lận, giả mạo; giao dịch thanh toán khống tại ĐVCNT (không phát sinh việc mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ).
- ĐVCNT thu phụ phí hoặc phân biệt giá khi chủ thẻ thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng thẻ.
- Lấy cắp, thông đồng để lấy cắp thông tin thẻ; Tiết lộ và cung cấp thông tin thẻ, chủ thẻ và giao dịch thẻ không đúng quy định của pháp luật.
- Xâm nhập hoặc tìm cách xâm nhập trái phép, phá hủy chương trình hoặc cơ sở dữ liệu của hệ thống phát hành, thanh toán thẻ, chuyển mạch thẻ, bù trừ điện tử giao dịch thẻ.
- Sử dụng thẻ để thực hiện các giao dịch cho các Mục đích rửa tiền, tài trợ khủng bố, lừa đảo, gian lận và các hành vi vi phạm pháp luật khác.
Như vậy, theo quy định nêu trên thì ngân hàng không được tiết lộ và cung cấp thông tin thẻ, chủ thẻ và giao dịch thẻ không đúng quy định của pháp luật. Việc ngân hàng tiết lộ thông tin của chủ tài khoản cho cá nhân khác là đã vi phạm.
6. Trường hợp nào phải từ chối thanh toán thẻ ngân hàng
Thưa luật sư, trong việc sử dụng thẻ ngân hàng, có khi nào ngân hàng được hay tổ chức chấp nhận thẻ phải từ chố thanh toán thẻ hay không ạ? Rất mong nhận được giải đáp. Xin cảm ơn!
Chào bạn, thắc mắc của bạn chúng tôi nghiên cứu và giải đáp như sau:
Theo quy định tại Điều 27 Thông tư 19/2016/TT-NHNN, Tổ chức phát hành thẻ, Tổ chức thanh toán thẻ, Đơn vị chấp nhận thẻ phải từ chối thanh toán thẻ trong 4 trường hợp sau:
- Sử dụng thẻ để thực hiện các giao dịch thẻ bị cấm theo quy định tại Điều 8 Thông tư này;
- Thẻ đã được chủ thẻ thông báo bị mất;
- Thẻ hết hạn sử dụng;
- Thẻ bị khóa.
Ngoài ra, Tổ chức phát hành thẻ, Tổ chức thanh toán thẻ, Đơn vị chấp nhận thẻ được từ chối thanh toán thẻ theo thỏa thuận trong các trường hợp sau:
- Số dư tài khoản thanh toán, hạn mức tín dụng hoặc hạn mức thấu chi còn lại (nếu có) không đủ chi trả khoản thanh toán;
- Chủ thẻ vi phạm các quy định của Tổ chức phát hành thẻ trong các thỏa thuận giữa chủ thẻ với Tổ chức phát hành thẻ mà theo đó thẻ bị từ chối thanh toán.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung pháp luật về sử dụng thẻ ngân hàng.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)