1. Phạt ngân hàng áp dụng mức phí cung ứng dịch vụ cao hơn mức đã niêm yết

Mức xử phạt vi phạm hành chính đối với ngân hàng thương mại áp dụng mức phí cung ứng dịch vụ cao hơn mức đã niêm yết được quy định tại khoản 2, điểm a khoản 4 Điều 13 Nghị định 88/2019/NĐ-CP như sau:

- Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi áp dụng lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ cao hơn mức đã niêm yết.

-  Biện pháp khắc phục hậu quả:

+  Buộc nộp vào ngân sách nhà nước số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm mức phí cung ứng dịch vụ quy định;

+ Đề nghị hoặc yêu cầu cấp có thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp đình chỉ từ 01 tháng đến 03 tháng hoặc miễn nhiệm chức danh quản trị, điều hành, kiểm soát; không cho đảm nhiệm chức vụ quản trị, điều hành, kiểm soát tại các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với cá nhân vi phạm và/hoặc cá nhân chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm quy định.

Yêu cầu tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cách chức và thực hiện các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật đối với cá nhân vi phạm thuộc thẩm quyền của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 3 Nghị định 88/2019/NĐ-CP về mức phạt tiền, đối với ngân hàng thương mại áp dụng mức phí cung ứng dịch vụ cao hơn mức đã niêm yết, cơ quan chức năng có thẩm quyền có quyền xử phạt theo hình thức vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng. Đây là biện pháp xử phạt áp dụng đối với cá nhân.

Ngoài ra, nếu ngân hàng thương mại vi phạm, tổ chức sẽ bị xử phạt mức phạt tiền tăng gấp đôi so với mức áp dụng đối với cá nhân, tức là từ 80.000.000 đồng đến 160.000.000 đồng. Hành vi này không chỉ dẫn đến mức phạt tiền mà còn đưa ra biện pháp khắc phục hậu quả, đòi hỏi ngân hàng thương mại cần nộp vào ngân sách nhà nước số lợi nhuận không hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm mức phí cung ứng dịch vụ. Điều này nhấn mạnh sự chấp nhận trách nhiệm và bồi thường hậu quả của ngân hàng thương mại đối với vi phạm quy định về mức phí.

=> Theo đó, ngân hàng thương mại áp dụng mức phí cung ứng dịch vụ cao hơn mức đã niêm yết thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng. Đồng thời ngân hàng thương mại vi phạm còn bị buộc nộp vào ngân sách nhà nước số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm mức phí cung ứng dịch vụ.

 

2. Thời hiệu xử phạt ngân hàng thương mại áp dụng mức phí cung ứng dịch vụ cao hơn mức niêm yết 

Theo quy định của Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi bởi Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020, thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định một cách chi tiết và linh hoạt. Cụ thể, theo Điều 6 này, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính mặc định là 01 năm. Tuy nhiên, điều đặc biệt là khi xử lý các vi phạm liên quan đến nhiều lĩnh vực như kế toán, hóa đơn, phí, lệ phí, kinh doanh bảo hiểm, chứng khoán, và nhiều lĩnh vực khác nhau như thủy sản, lâm nghiệp, đê điều, báo chí, xuất bản, năng lượng nguyên tử, thì thời hiệu xử phạt có thể lên đến 02 năm.

Đối với vi phạm hành chính liên quan đến thuế, thì thời hiệu xử phạt sẽ tuân theo quy định của pháp luật về quản lý thuế, giúp đảm bảo tính chặt chẽ và linh hoạt trong quản lý thuế.

Những điều chỉnh và thay đổi này nhằm mục đích tăng cường hiệu quả xử lý, đồng thời đảm bảo sự tuân thủ pháp luật trong từng lĩnh vực cụ thể, phản ánh tính chất đặc biệt và quan trọng của từng ngành nghề. Điều này giúp tăng cường quản lý và tuân thủ, hỗ trợ công tác xử phạt vi phạm hành chính theo hướng chặt chẽ và linh hoạt hơn.

Theo quy định trên, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với ngân hàng thương mại áp dụng mức phí cung ứng dịch vụ cao hơn mức đã niêm yết là 01 năm.

 

3. Ngân hàng Nhà nước có được quy định cơ chế xác định phí cung ứng dịch vụ của ngân hàng thương mại? 

Theo quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng 2010, Ngân hàng Nhà nước có quyền quy định cơ chế xác định phí cung ứng dịch vụ của ngân hàng thương mại. Điều này áp dụng trong trường hợp hoạt động ngân hàng có diễn biến bất thường, nhằm đảm bảo an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng. Cơ chế này cho phép Ngân hàng Nhà nước can thiệp linh hoạt và hiệu quả để ổn định thị trường tài chính và bảo vệ lợi ích chung của cả ngân hàng và khách hàng.

Tổ chức tín dụng được ủy quyền quyền ấn định và buộc phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn và mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên, quyền này không làm mất đi quyền thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng về lãi suất và phí cấp tín dụng, theo đúng quy định của pháp luật.

Ngân hàng Nhà nước được ủy quyền quyền lực và trách nhiệm lớn trong việc xác định cơ chế phí cung ứng dịch vụ của ngân hàng thương mại. Điều này đặc biệt trở nên quan trọng khi hoạt động ngân hàng có những biến động bất thường hoặc để bảo đảm an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng.

Quyền quy định cơ chế phí cung ứng dịch vụ của ngân hàng thương mại cho Ngân hàng Nhà nước không chỉ là công cụ quản lý hiệu quả trong việc kiểm soát và giám sát hệ thống tài chính quốc gia mà còn là biện pháp để ứng phó với những tình huống khẩn cấp và rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng.

Bằng cách này, Ngân hàng Nhà nước có khả năng linh hoạt và nhanh chóng áp dụng cơ chế phí cung ứng dịch vụ một cách phù hợp với tình hình thị trường và nhu cầu của ngân hàng thương mại. Điều này không chỉ giúp duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính mà còn góp phần quan trọng vào việc đảm bảo tính an toàn và tin cậy của ngân hàng trong quá trình hoạt động. Quy định này giúp tạo ra sự linh hoạt trong hoạt động ngân hàng và đồng thời đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính, đặt ra một cơ chế linh hoạt và hiệu quả cho Ngân hàng Nhà nước để điều chỉnh lãi suất và phí trong tình hình thị trường biến động.

 

4. Nguyên tắc ngân hàng thương mại phải xét duyệt cấp tín dụng 

Theo quy định tại khoản 14 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010, việc cấp tín dụng là quá trình thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, cho phép cá nhân hoặc tổ chức sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết để sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cấp tín dụng, như cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.

Quy định về nguyên tắc tổ chức xét duyệt cấp tín dụng của ngân hàng thương mại được nêu rõ tại Điều 94 Luật Các tổ chức tín dụng 2010. Theo đó:

- Tổ chức tín dụng có trách nhiệm yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh phương án sử dụng vốn, khả năng tài chính, mục đích sử dụng vốn, và biện pháp bảo đảm tiền vay trước khi quyết định cấp tín dụng.

- Quá trình xét duyệt cấp tín dụng được tổ chức tín dụng thực hiện theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cấp tín dụng.

- Tổ chức tín dụng có quyền và nghĩa vụ kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng.

- Tổ chức tín dụng có quyền yêu cầu khách hàng báo cáo về việc sử dụng vốn và chứng minh vốn được sử dụng đúng mục đích vay vốn.

Quý khách có nhu cầu xem thêm bài viết sau: Giờ làm việc của các ngân hàng Việt Nam mới nhất

Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, xin vui lòng không ngần ngại liên hệ với chúng tôi thông qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Đội ngũ chuyên gia của chúng tôi sẵn sàng lắng nghe và cung cấp sự tư vấn chuyên nghiệp để giúp quý khách giải quyết mọi vấn đề một cách hiệu quả và đúng luật. Ngoài ra, quý khách hàng cũng có thể gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc một cách nhanh chóng. Chúng tôi cam kết đáp ứng mọi yêu cầu của quý khách hàng một cách chu đáo và chất lượng.