1. Nguyên đơn, bị đơn, đương sự là gì?

Nguyên đơn, bị đơn, đương sự là các khái trắc nghiệm trong vụ án tố tụng dân sự. Trong đó

Nguyên đơn chính là người khởi kiện người được cá nhân cơ quan tổ chức quy định khởi kiện hoặc cơ quan tổ chức thực hiện việc khởi kiện. Nguyên đơn là bên khởi kiện, tức là người hoặc tổ chức bắt đầu quy trình pháp lý và yêu cầu tòa án xem xét giải quyết vấn đề của họ. Nguyên đơn thường là người hoặc tổ chức gửi đơn yêu cầu hoặc khiếu nại bị đơn - người hoặc tổ chức mà họ cho rằng vi phạm quyền lợi của mình gây ra thiệt hại. Vai trò của nguyên đơn chính là đưa ra lập luận cung cấp bằng chứng và chứng minh cho Tòa án rằng họ có căn cứ hợp lệ để khởi kiện và đòi hỏi các biện pháp đòi lại quyền lợi của mình

Bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cơ quan tổ chức bị khởi kiện. Thuật ngữ bị đơn được sử dụng trong ngữ cảnh pháp lý chỉ người hoặc tổ chức bị đưa ra trước tòa án hoặc hội đồng xem xét với vai trò là người bị kiện. Trong trường hợp này người hoặc tổ chức này là bên phải chịu trách nhiệm và đối diện với các yêu cầu khiếu nại hoặc đòi hỏi từ phía bên đơn kiện. Việc bị đơn có thể liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp lý khác nhau như dân sự, gia đình, thương mại. Người bị đơn có thể là cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp hoặc bất kỳ thực thể pháp nhân nào khác mà bên đơn kiện cho rằng đã vi phạm quyền lợi của họ gây ra thiệt hại.

Thuật ngữ đương sự là một thuật ngữ để chỉ các bên liên quan trực tiếp bao gồm nguyên đơn và bị đơn. Họ có quyền và nghĩa vụ tham gia vào quá trình pháp lý. Các đương sự thường được yêu cầu đưa ra lập luận chứng minh và bằng chứng để hỗ trợ vị thế và yêu cầu của mình trước tòa án hoặc hội đồng xét xử. Họ có thể cung cấp các luận điểm đối thoại và chứng cứ để bảo vệ quyền lợi ích của mình trong quá trình tham gia vụ kiện. Vai trò của đương sự là cung cấp thông tin lập luận và chứng cứ phù hợp để thể hiện quyền lợi của mình và tham gia vào quá trình tìm kiếm công lý. Họ thường được đại diện bởi luật sư hoặc đại diện pháp lý khác để đảm bảo quyền lợi của mình được bảo vệ và được đại diện một cách tốt nhất trong vụ kiện.

 

2. Những trường hợp hoãn phiên tòa

Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 hội đồng xét xử được thực hiện các việc hoãn phiên tòa trong các trường hợp như:

- Phải thay đổi thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thẩm tra viên, thư ký tòa án, kiểm sát viên

- Khi phải thay đổi người giám định, người phiên dịch

- Khi đương sự và người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất tại phiên tòa hoặc vắng mặt lần thứ hai vì lí do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

- Khi người làm chứng vắng mà gây khó khăn ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan toàn diện vụ án tại phiên tòa

- Trong trường hợp  giám định vắng mặt thì hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử hoặc hoãn toà 

- Trường hợp người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế khi có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa mà không thuộc trường hợp toà án  phải hoãn phiên tòa thì chủ toạ phiên tòa phải hỏi xem có ai đề nghị hoãn phiên tòa hay không. Nếu có người đề nghị thì hội đồng xét xử xem xét quyết định theo thủ tục của bộ luật tố tụng dân sự và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận. Trường hợp không chấp nhận cần phải nêu rõ lý do

Đối với phiên tòa phúc thẩm những trường hợp hoãn phiên tòa được quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đó là Viện kiểm sát có kháng nghị phúc thẩm nhưng kiểm sát viên vắng mặt, người kháng cáo, người không kháng cáo nhưng có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo kháng nghị,  người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của họ được tòa án Triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người kháng cáo được tòa án Triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng trở lại khách quan.

Đối với các phiên tòa có yếu tố nước ngoài phiên tòa sẽ được hoãn trong trường hợp đương sự ở nước ngoài đề nghị hoãn phiên tòa lần thứ nhất, đương sự ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất trừ trường hợp có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, tòa án không nhận được văn bản thông báo về kết quả tống đạt cũng như lời khai tài liệu chứng cứ của đương sự ở nước ngoài và đến ngày xét xử phiên tòa đương sự nước ngoài vắng mặt không có đơn đề nghị tòa xét xử vắng mặt họ.

Thời hạn tạm hoãn phiên tòa là không quá một tháng và đối với phiên tòa xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn là không có 15 ngày và số lần hoãn một phiên tòa dân sự đó là đối với phiên tòa sơ thẩm có thể được hoãn 9 lần, phiên tòa phúc thẩm 3 lần và phiên tòa có yếu tố nước ngoài 3 lần căn cứ vào các ví dụ thuộc các trường hợp của phiên tòa theo luật định. Do đó các trường hợp được hoãn phiên tòa bao gồm:

  • Vắng mặt của các bên liên quan: Nếu một bên không có mặt trong phiên tòa mà không có lý do hợp lý hoặc không có đại diện hợp pháp tham gia thay mặt, phiên tòa có thể được hoãn để chờ bên đó có mặt hoặc đảm bảo quyền được tham gia tự do và công bằng của bên đó.
  • Yêu cầu hóa từ các bên liên quan: Các bên liên quan có thể yêu cầu hoãn toà trong trường hợp có lý do chính đáng kể như: bệnh tật, sự cố khẩn cấp  hoặc nguy cơ cho sự an toàn của các bên liên quan
  • Yêu cầu hoãn từ luật sư: luật sư đại diện cho bên liên quan có thể yêu hoãn phiên tòa trong trường hợp có lý do khách quan như dịch bệnh không thể tham gia phiên tòa, để nghiên cứu và chuẩn bị hồ sơ
  • Yêu cầu hoãn từ toà án: Toà án cũng có thể quyết định hoãn phiên tòa trong các trường hợp đặc biệt như cần thêm thời gian để xem xét tài liệu chứng cứ hoặc để tiến hành các thủ tục pháp lý khác.

 

3. Phiên tòa vắng mặt bị đơn, nguyên đơn và đương sự thì giải quyết thế nào?

Theo như những phân tích ở mục 2 có thể thấy trường hợp đương sự vắng mặt thuộc trường hợp được hoãn phiên tòa theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Cụ thể: khi đương sự,  người đại diện của họ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất tại phiên tòa hoặc vắng mặt lần thứ hai nhưng do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không có đơn đề nghị xét xử có mặt thì tòa án sẽ ra quyết định hoãn phiên tòa. Như vậy trong trường hợp nguyên đơn bị đơn vắng mặt thì tòa án sẽ ra quyết định hoãn phiên tòa.

Do đó, trong trường hợp triệu tập đến lần thứ hai mà các đương sự vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng thì tòa án sẽ lập biên bản hòa giải không thành và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Trong vụ án dân sự không tiến hành hoà giải được mà khi mở phiên tòa vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn (không có lý do) thẩm phán có quyền hoãn biên xét xử theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Để tìm hiểu thêm về vấn đề trên bạn đọc có thể tham khảo bài viết Phiên toà là gì? quy định pháp luật về phiên tòa của luật Minh Khuê

Trên đây là giải đáp của Luật  Minh Khuê về trường hợp phiên tòa vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và đương sự xin gửi tới bạn đọc. Mong rằng bài viết trên là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho bạn. Quý khách hàng có bất kỳ thắc mắc nào xin vui lòng liên hệ tổng đài 19006162 để được tư vấn và giải đáp trực tiếp hoặc gửi yêu cầu về địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Cảm ơn bạn đã quan tâm theo dõi.