Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, Luật sư hãy cho tôi biết về quy định của pháp luật tố tụng (thủ tục) của Việt Nam về giải quyết tranh chấp đẩu tư quốc tế? Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại và hạn chế là gì?

Cảm ơn!

Trả lời:

 

1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế

Hiện tại, thẩm quyền ISDS được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Luật Trọng tài thương mại năm 2010, Luật Thương mại năm 2005, sửa đổi năm 2017, 2019, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của Chính phủ về hòa giải thương mại (Nghị định số 22/2017/NĐ-CP) và văn bản quy định chi tiết.

Các văn bản vừa nêu này quy định các thiết chế có thẩm quyền ISDS là tòa án, Trọng tài Việt Nam và đồng thời cho phép các bên tranh chấp có thể tự hòa giải theo hình thức trong và ngoài thiết chế giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, ở phương thức ISDS tại tòa án Việt Nam, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 chỉ quy định việc được khởi kiện đối với hành vi hành chính, quyết định hành chính của cơ quan đại diện chính thức của Nhà nước Việt Nam ở nước ngoài mà không đề cập việc khỏi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Nhà nước Việt Nam nói chung.

Liên quan đến tham vấn, thương lượng giữa các bên tranh chấp và ISDS tại trọng tài nước ngoài, trọng tài quốc tế, hiện pháp luật Việt Nam không quy định cụ thể mà được áp dụng trực tiếp theo quy định của Luật Điều ước quốc tế năm 2016.a

 

2. Trình tự, thủ tục theo các phương thức giải quyết tranh chấp đẩu tư quốc tế

Thứ nhất, phương thức tham vấn, thương lượng mặc dù được coi là ưu tiên thực hiện khi xuất hiện tranh chấp giữa Nhà nước Việt Nam với nhà đầu tư nước ngoài, nhưng hiện pháp luật Việt Nam không quy định trình tự, thủ tục tham vấn, thương lượng giữa Nhà nước Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài;

Thứ hai, theo Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, ISDS có thể được thực hiện theo phương thức hòa giải ngoài tòa án, trọng tài. Trình tự, thủ tục hòa giải áp dụng theo quy tắc hòa giải được lựa chọn hoặc do các bên tự thỏa thuận. Tuy vậy, hiện các điều ước quốc tế về đầu tư mà Việt Nam là thành viên không quy định phương thức này;

Thứ ba, theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015, ISDS tại tòa án Việt Nam giống như đối với vụ việc tranh chấp dân sự thông thưòng. Tuy nhiên, Phần thứ tám của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và một số điều khoản của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 có những quy định đặc thù về giải quyết những vụ việc có yếu tố nước ngoài có thể áp dụng cho các vụ việc ISDS;

Thứ tư, trường hợp ISDS tại trọng tài Việt Nam, theo Luật Trọng tài thương mại năm 2010, về cơ bản, thủ tục không có khác biệt so với giải quyết các tranh chấp thương mại khác tại thiết chế này;

Thứ năm, trình tự, thủ tục ISDS tại trọng tài quốc tế tùy thuộc vào quy tắc tố tụng trọng tài quốc tế hay thủ tục tố tụng quốc tế được áp dụng để giải quyết vụ việc.

Ví dụ: nếu chọn Quy tắc trọng tài UNCITRAL hay Quy tắc trọng tài của Trung tâm ICSID, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc tranh chấp sẽ áp dụng theo quy tắc được lựa chọn này. Mặc dù vậy, pháp luật Việt Nam có quy định quy trình phối hợp ISDS tại trọng tài quốc tế trong Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg.

Dưới đây là một số tồn tại, hạn chế của pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp đẩu tư quốc tế như sau:

 

3. Pháp luật đầu tư nước ngoài

Như trên đã nêu, hiện pháp luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam còn chưa có các quy định tạo cơ sở pháp lý cho phòng ngừa, giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước Việt Nam với nhà đầu tư nước ngoài. Điều này dẫn tới việc lúng túng trong công tác phòng ngừa và xử lý loại tranh chấp này của các cơ quan, tổ chức của Việt Nam.

 

4. Pháp luật tố tụng (thủ tục) giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài

- Pháp luật về phương thức giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước bằng tham vấn, thương lượng

Hiện pháp luật Việt Nam không quy định trình tự, thủ tục thực hiện tham vấn, thương lượng ở giai đoạn trước khi nhà đầu tư nước ngoài có thể chính thức khỏi kiện Nhà nước Việt Nam tại thiết chế giải quyết tranh chấp. Bên cạnh đó, đối vối ISDS bằng hòa giải ngoài tòa án, trọng tài được thực hiện theo Nghị định số 22/2017/NĐ-CP. Tuy nhiên, cho đến nay, còn thiếu các quy định hướng dẫn cụ thể cho các thủ tục theo phương thức này.

 

5. Pháp luật về phương thức tòa án Việt Nam

Thứ nhất, liên quan đến thẩm quyền theo lãnh thổ của tòa án, theo Điều 39 Bộ luật Tô' tụng dân sự năm 2015, tòa án giải quyết vụ việc ISDS được xác định là tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc (nếu bị đơn là cá nhân) hoặc nơi bị đơn có trụ sở (nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức); đồng thời, các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn giải quyết vụ việc (nếu nguyên đơn là cá nhân) hoặc tòa án nơi có trụ sở của nguyên đơn giải quyết vụ việc (nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức). Bên cạnh đó, khoản 5 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định: Tòa án giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan đại diện của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài (cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam) hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan đó là tòa án cấp tỉnh nơi cư trú của nguyên đơn; trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú tại Việt Nam, tòa án có thẩm quyền là Tòa án nhân dân thành phô' Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân Thành phô' Hồ Chí Minh.

Như vậy, Điều 39 Bộ luật Tô' tụng dân sự năm 2015 khó áp dụng để xác định tòa án có thẩm quyền giải quyết trong trưòng hợp nhà đầu tư nưốc ngoài khởi kiện Nhà nước Việt Nam tại tòa án Việt Nam vì định nghĩa hay khái niệm “trụ sỏ” của bị đơn khi bị đơn là Nhà nước Việt Nam không đặt ra trong pháp luật, thực tiễn Việt Nam, trong khi đó Bộ luật này chưa có tiêu chí khác thay thế trong trường hợp đặc biệt. Cho đến nay, chưa có vụ tranh chấp nào giữa Nhà nưốc Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài được giải quyết tại tòa án Việt Nam. Tuy nhiên, đây cũng là khoảng trông pháp luật cần nghiên cứu để quy định cụ thể. Đối vói quy định của khoản 5 Điều 32 Luật Tô' tụng hành chính năm 2015 là khá rõ ràng về thẩm quyền theo lãnh thổ của tòa án giải quyết vụ việc do cá nhân nước ngoài khởi kiện cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam hoặc của người có thẩm quyền của cơ quan đó, nhưng lại bỏ sót trường hợp nếu nguyên đơn là tổ chức nước ngoài, thì tòa án nào có thẩm quyền giải quyết;

Thứ hai, đốì với thẩm quyền của tòa án cấp huyện và tòa án cấp tỉnh trong việc giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài, theo Điều 35, Điều 37 Bộ luật T<3 tụng dân sự năm 2015, cả tòa án nhân dân cấp huyện và tòa án nhân dân cấp tỉnh đều có thẩm quyền sơ thẩm các vụ việc ISDS. Liên quan đến khiếu kiện hành vi hành chính, quyết định hành chính của cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam hoặc của người có thẩm quyền của cơ quan đó là tòa án cấp tỉnh. Bên cạnh đó, cả Bộ luật Tố tụng dân sự nám 2015 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đều quy định hội đồng xét xử sơ thẩm của tòa án gồm 01 thẩm phán và 02 hội thẩm nhân dân (trường hợp đặc biệt có thể gồm 02 thẩm phán và 03 hội thẩm nhân dân); tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số. Cho đến nay, ở tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh, số lượng thẩm phán có thể giải quyết hiệu quả loại tranh chấp này là không nhiều. Cùng vởi đó, việc xét xử sơ thẩm, trong đó hội thẩm nhân dân chiếm đa số, khi mà trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về pháp luật đầu tư nước ngoài của hội thẩm nhân dân ỏ cấp huyện và cấp tỉnh còn nhiều bất cập, thì cũng sẽ khó khăn trong việc thực hiện đúng pháp luật các ISDS;

Thứ ba, quyền tranh tụng trước tòa án được quy định cho các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Tô” tụng hành chính năm 2015 chưa có quy định chi tiết thẩm quyền của hội đồng xét xử trong giai đoạn tranh tụng trước tòa, ví dụ: trong giai đoạn tranh tụng, cần quy định rõ từng trường hợp chủ tọa phiên tòa được phép cho dừng tranh luận, chứ không nên quy định chung như hiện nay là cho dừng trình bày những ý kiến không có liên quan đến vụ án dân sự, vì trong thực tế, nhiều trường hợp các tình tiết gián tiếp có thể được coi là không liên quan đến vụ án nhưng lại có tác dụng làm rõ hơn bản chất của vụ việc;

Thứ tư, theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền ban hành nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật; Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền ban hành thông tư liên tịch với các cơ quan hữu quan để phốỉ hợp hưóng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử. Từ tháng 01/2004 đến tháng 3/2018, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành khoảng 33 nghị quyết hưống dẫn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, hành chính và phá sản. Tuy nhiên, công tác hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật thiên về hướng dẫn áp dụng pháp luật tố tụng dân sự hơn là hướng dẫn áp dụng các quy định của pháp luật chuyên ngành. Do đó, khi giải quyết tranh chấp phức tạp như tranh chấp giữa Nhà nưốc Việt Nam với nhà đầu tư nước ngoài, các tòa án sẽ gặp khó khăn trong việc thống nhất nhận thức chung về áp dụng pháp luật nội dung trong lĩnh vực này.

 

6. Pháp luật về phương thức trọng tài Việt Nam

Trước tiên, cần phải khẳng định những hạn chế của pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp thương mại, đầu tư nói chung tại trọng tài cũng là những hạn chế, bất cập của pháp luật ISDS tại thiết chế này. Tính đến thời điểm hiện nay chưa có vụ việc ISDS nào tại trọng tài Việt Nam. Tuy nhiên, có thể nhận thấy, trong trường hợp vụ việc ISDS được đưa ra trọng tài Việt Nam sẽ có những vưống mắc như sau:

Thứ nhất, như đã nêu tại phần trên, hội đồng trọng tài có 30 ngày sau khi tổ chức phiên họp cuối cùng để ban hành phán quyết trọng tài đốỉ vối mọi loại tranh chấp dù phức tạp hay đơn giản. Vói thời hạn 30 ngày trong những vụ có tính chất phức tạp như vụ việc ISDS, hội đồng trọng tài sẽ chịu áp lực về thòi gian rất lớn cho việc ban hành phán quyết;

Thứ hai, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 chỉ quy định hội đồng trọng tài hay tòa án sẽ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu thấy “cần thiết”. Việc thiếu hướng dẫn điều kiện áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời như hiện nay dẫn đến thực trạng hội đồng trọng tài và tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời một cách chủ quan, cảm tính do trưòng hợp “cần thiết” là khá mơ hồ;

Thứ ba, với khổì lượng vụ việc lớn và chưa hoàn toàn quen thuộc các vấn đề về tố tụng trọng tài, việc tòa án cấp sơ thẩm mắc sai sót dẫn đến hủy phán quyết trọng tài là khó tránh khỏi. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có cơ chế xem lại quyết định hủy quyết định trọng tài của tòa án cấp sơ thẩm nêu trên.

 

7. Pháp luật về phương thức trọng tài quốc tế

Cho đến nay, pháp luật Việt Nam không quy định trực tiếp quyền khỏi kiện Nhà nước Việt Nam của nhà đầu tư nước ngoài mà quyền này được ghi nhận trên cơ sở điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam là thành viên. Bên cạnh đó, như trên đã đề cập, hiện pháp luật Việt Nam chỉ có quy định về phối hợp trong giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài tại trọng tài quốc tế hoặc cơ quan tài phán nước ngoài (Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg). Mặc dù cơ chê phốĩ hợp trong ISDS được quy định tại Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg nhưng văn bản này mới ở hình thức quyết định của Thủ tướng Chính phủ, phạm vi chưa bao phủ được toàn bộ việc phối hợp trong ISDS ở các phương thức; trong khi đó, một số quy định của Quyết định này còn chưa chi tiết, nhất là trách nhiệm cụ thể của các cơ quan, tổ chức trong phối hợp, ví dụ: chế tài cụ thể đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp không hết trách nhiệm; cơ chế tài chính phục vụ cho việc giải quyết vụ việc ISDS cũng không có quy định cụ thể.

 

8. Nguyên nhân của những tồn tại và hạn chế

Việt Nam mới hội nhập quốc tế sâu nên lĩnh vực pháp luật về giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước Việt Nam vói nhà đầu tư nước ngoài còn chưa có bề dày phát triển, việc thiếu các quy định điều chỉnh chi tiết là khó tránh khỏi.

Bên cạnh đó, trong một thời gian dài, pháp luật Việt Nam chú trọng hơn đến tạo thuận lợi cho đầu tư nước ngoài, mà chưa thực sự quan tâm đúng mức tới xây dựng những quy định phòng ngừa, giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài, nhất là tại trọng tài quốc tế. Thậm chí, nếu rà soát Luật Trọng tài thương mại năm 2010; Luật Đầu tư năm 2014; Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, có thể nhận thấy, các cơ quan nhà nước khi xây dựng những đạo luật này chưa thực sự quan tâm đến xây dựng các quy định cho việc giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài tại các thiết chế giải quyết tranh chấp trong nước.

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).