1. Mở đầu vấn đề

Tố tụng tư pháp, đặc biệt tố tụng hình sự là một lĩnh vực được chú trọng nghiên cứu ở nước ta trong thời gian vừa qua và đã có những thành tựu quan trọng.

Hệ thống lý luận pháp luật thực định về tố tụng tư pháp từng bước được hình thành và phát triển. Điều chỉnh pháp luật về tố tụng tư pháp cũng được Nhà nước ta quan tâm nhiều hơn, do vậy, các bộ luật tố tụng tư pháp và các quy định khác có liên quan cũng ngày càng được hoàn thiện. Nhưng nhìn ở một phưong diện khác - phương diện chính sách pháp luật, tố tụng tư pháp chưa được quan tâm với tư cách là một loại chính sách pháp luật độc lập trong khi có đầy đủ cơ sở lý luận và thực tiễn để coi chính sách pháp luật tố tụng tư pháp là một loại chính sách pháp luật độc lập trong hệ thống chính sách pháp luật Việt Nam.

2. Khái niệm chính sách pháp luật tố tụng tư pháp

Chính sách pháp luật tố tụng tư pháp là hoạt động có căn cứ khoa học, nhất quán và hệ thôhg của các cơ quan nhà nước và của các thiêỉ chếphỉ nhà nước để xây dựng chiến lược và sách lược phát triển pháp luật tô' tụng tư pháp, nâng cao hiệu quả của cơ chế điêu chỉnh pháp luật tô' tụng tư pháp để bảo đảm các quyền và tự ão của các chủ thể pháp luật.

Chính sách pháp luật tố tụng tư pháp có khách thể tác động riêng là quá trình tài phán. Quá trình đó được coi là các loại tố tụng tư pháp do các loại quy phạm pháp luật tố tụng điều chỉnh như: tố tụng hiến pháp, tố tụng hình sự, tố tụng hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động, tố tụng trọng tài yà các loại tố tụng khác.

3. Thuộc tính của chính sách pháp luật tố tụng tư pháp

Chính sách pháp luật tố tụng tư pháp có các thuộc tính sau đây:

- Chính sách pháp luật tố tụng tư pháp được thực hiện bằng các công cụ pháp lý mang tính chất tố tụng tư pháp để điều chỉnh các quan hệ xã hội;

- Phương tiện cơ bản của việc thực hiện chính sách pháp luật tố tụng tư pháp là văn bản pháp luật tố tụng bao gồm cả các văn bản mang tính chất quy phạm lẫn các văn bản mang tính chất cá biệt;

- Chính sách pháp luật tố tụng tư pháp hướng đến việc tối ưu hóa tố tụng tư pháp, nâng cao hiệu quả của cơ chế điều chỉnh pháp luật tố tụng tư pháp;

- Chính sách pháp luật tố tụng tư pháp có nội dung không chỉ hoàn thiện các ngành pháp luật tố tụng tư pháp mà còn cả chiến lược và sách lược phát triển pháp luật nói chung, kế hoạch hóa pháp luật, dự báo pháp luật, mô hình hóa các lĩnh vực khác nhau của đời sống pháp luật trong xã hội.

4. Nhiệm vụ của chính sách pháp luật tố tụng tư pháp

Các nhiệm vụ của chính sách pháp luật tố tụng tư pháp được hiểu là các ưu tiên của chính sách pháp luật tố tụng tư pháp. Chính sách pháp luật tố tụng tư pháp nước ta hiện nay có các ưu tiên sau đây:

- Tối ưu hóa các cơ chế tài phán để bảo hộ và bảo vệ công lý, các quyền con người, quyền công dân và lợi ích hợp pháp của những người tham gia các quan hệ pháp luật;

- Bảo đảm tính công khai, minh bạch, dễ tiếp cận của tố tụng tư pháp;

- Củng cố và nâng cao niềm tin của Nhân dân đối vói xét xử nói chung và đối với thẩm phán nói riêng;

- Nâng cao hiệu quả của các tố tụng tư pháp hình sự, tố tụng tư pháp hành chính, tố tụng tư pháp dân sự, tố tụng tư pháp kinh tế, tố tụng tư pháp lao động, tố tụng tư pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và các loại tố tụng tài phán khác;

- Và các ưu tiên khác: hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, thủ tục rút gọn; hoàn thiện thủ tục thương lượng, hòa giải, trọng tài; hoàn thiện thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại tòa...

Dưới đây chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về chính sách pháp luật tố tụng dân sự ở những mục sau:

5. Khái niệm chính sách pháp luật tố tụng dân sự

Chính sách pháp luật tố tụng dân sự được hiểu là hoạt động có căn cứ khoa học, nhất quán và hệ thống của các cơ quan nhà nước, của những người có chức vụ, quyền hạn, của các tổ chức phi nhà nước để xây dựng cơ chế điều chỉnh pháp luật tố tụng dân sự có hiệu quả, tối ưu hóa tố tụng tư pháp dân sự và các thủ tục thi hành, chấp hành các bản án, các quyết định dân sự nhằm bảo vệ đầy đủ nhất các quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức.

6. Mục tiêu và nhiệm vụ của chính sách pháp luật tố tụng dân sự

Mục tiêu của chính sách pháp luật tố tụng dân sự là việc hoàn thiện mang tính tổng thể và hệ thống cơ chế điều chỉnh pháp luật tố tụng dân sự, thủ tục tố tụng tư pháp dân sự và thủ tục thi hành, chấp hành các bản án, các quyết định dân sự để bảo vệ đầy đủ nhất các quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức có liên quan.

Các nhiệm vụ của chính sách pháp luật tố tụng dân sự hay có thể gọi các mục tiêu gần nhất, trực tiếp nhất của chính sách pháp luật tố tụng dân sự bao gồm các nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Soạn thảo các tư tưởng và các định hướng mang tính quan điểm được lập luận về mặt khoa học của chính sách pháp luật tố tụng dân sự;

- Xác định và chỉnh sửa khách thể, đối tượng, các chủ thể và các yếu tố khác của chính sách pháp luật tố tụng dân sự, cũng như các phương tiện thực hiện chính sách pháp luật tố tụng dân sự;

- Hỗ trợ để khẳng định uy tín, tính độc lập, tính tự chủ và tính không thể bị mua chuộc của quyền tư pháp, củng cố tính chính đáng của nó;

- Nâng cao chất lượng và hiệu quả của tố tụng dân sự;

- Bảo đảm việc xem xét và giải quyết đúng đắn, kịp thời các vụ án dân sự theo đúng thực chất;

- Hoàn thiện các phương thức bảo vệ bằng Tòa án các quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức có liên quan;

- Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự;

- Củng cố và tăng cường pháp chế, trật tự pháp luật, phòng ngừa vi phạm pháp luật, hình thành thái độ tôn trọng đạo luật và Tòa án.

7. Khách thể và đối tượng của chính sách pháp luật tố tụng dân sự

Khách thể của chính sách pháp luật tố tụng dân sự

Khách thể của chính sách pháp luật tố tụng dân sự là một trong những vâh đề cơ bản, quan trọng của chính sách pháp luật tố tụng dân sự.

Khách thể của chính sách pháp luật tố tụng dân sự luôn luôn biến đổi, tùy thuộc vào trạng thái phát triển của quan hệ pháp luật dân sự, của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự.

Các khách thể của chính sách pháp luật tố tụng dân sự bao gồm các khách thể cụ thể sau đây:

- Tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực xem xét và giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án;

- Tố tụng tư pháp dân sự và thủ tục thi hành, chấp hành mang tính bắt buộc các bản án, các quyết định dân sự;

- Hoạt động của các chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự và các quyền và các nghĩa vụ của các chủ thê’ của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự được thực hiện trong quá trình xem xét và giải quyết các vụ án dân sự;

- Hoạt động giải thích pháp luật tố tụng dân sự;

- Hệ thống các quan điểm học thuyết (lý luận) về trạng thái hiện nay của tố tụng dân sự và triển vọng phát triển của tố tụng dân sự.

Đối tượng của chính sách pháp luật tố tụng dân sự

Đối tượng của chính sách pháp luật tố tụng dân sự là các lợi ích vật chất và phi vật chất, cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức được bảo hộ và bảo vệ bằng tố tụng tư pháp dân sự.

8. Chủ thể của chính sách pháp luật tố tụng dân sự

Các chủ thể của chính sách pháp luật tố tụng dân sự là những người tham gia các quan hệ pháp luật sử dụng các quyền mà họ được giao và thực hiện các nghĩa vụ tương ứng của họ để soạn thảo các quan điểm và các định hướng của chính sách pháp luật tố tụng dân sự, là những người trực tiếp tham gia thực hiện chính sách pháp luật tố tụng dân sự, và trong một số trường hợp là những người có trách nhiệm đối với hoạt động hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tố tụng dân sự, tối ưu hóa thủ tục tố tụng dân sự và thủ tục thi hành, chấp hành các bản án, quyết định dân sự.

Các chủ thể cụ thể của chính sách pháp luật tố tụng dân sự gồm:

- Các cơ quan thực hiện quyền lập pháp và quyền hành pháp trong giới hạn các thẩm quyền được giao ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản dưới quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, cũng như thủ tục thi hành, chấp hành các bản án, quyết định dân sự;

- Cơ quan xét xử cao nhất có nhiệm vụ thực hiện giám đốc việc xét xử của các tòa án khác, tổng kết thực tiễn xét xử dân sự, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật dân sự, pháp luật tố tụng dân sự và thủ tục thi hành, chấp hành các bản án, quyết định dân sự;

- Các chủ thể tiến hành hoạt động giải thích pháp luật;

- Các tổ chức quốc tế, trong đó có các cơ quan xét xử có thẩm quyền tài phán về những vấn đề áp dụng và giải thích các nguyên tắc và các quy phạm đã được thừa nhận chung của pháp luật quốc tế chứa đựng các quy tắc tố tụng hoặc các đòi hỏi tố tụng được Việt Nam thừa nhận chính thức thông qua văn bản phê chuẩn các điều ước quốc tế.

9. Những vấn đề khác của chính sách pháp luật tố tụng dân sự

Cơ chế thực hiện chính sách pháp luật tố tụng dân sự

Cơ chế thực hiện chính sách pháp luật tố tụng dân sự là hệ thống các phương tiện pháp luật mà với sự trợ giúp của hệ thống đó bảo đảm cho sự tác động có kết quả đối với các quan hệ xã hội trong lĩnh vực tòa án xem xét và giải quyết các vụ án dân sự, cũng như thủ tục thi hành, chấp hành các bản án, quyết định dân sự.

Phương tiện thực hiện chính sách pháp luật tố tụng dân sự

Dựa vào tính chất và loại tác động pháp luật, các phương tiện của chính sách pháp luật tố tụng dân sự được phân thành: (i) các văn bản quy phạm pháp luật ở cấp độ quốc gia và quốc tế; (ii) các văn bản quy phạm dưới luật do các cơ quan có thẩm quyền ban hành trong giới hạn các thẩm quyền được giao; (iiỉ) các văn bản giải thích pháp luật, trong đó có các văn bản tổng kết thực tiễn xét xử dân sự, các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử dân sự; (iv) các văn bản áp dụng pháp luật cụ thể mang tính cá biệt; (v) các qúan điểm mang tính chất học thuyết (lý luận).

Ưu tiên của chính sách pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay

Các ưu tiên của chính sách pháp luật tố tụng dân sự là những vấn đề mang tính cấp bách và quan trọng nhất trong một khoảng thời gian nhất định, các luận điểm có ý nghĩa hàng đầu mà việc đặt ra và thực hiện chúng được quy định bởi các mục tiêu và các nhiệm vụ của loại chính sách đó.

Trong số các ưu tiên của chính sách pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay có thể nêu các ưu tiên sau đây:

- Phát triển các nền tảng quy định về tranh tụng của tố tụng tư pháp dân sự trong việc duy trì vai trò tích cực của Tòa án khi xem xét và giải quyết theo thực chất vụ án dân sự;

- Tiếp tục chuyên môn hóa hoạt động tố tụng dân sự;

- Áp dụng và hoàn thiện các hình thức đơn giản hóa của thủ tục xét xử dân sự;

- Tối ưu hóa các phương tiện (công cụ) khởi kiện và không khởi kiện để bảo vệ quyền đã bị vi phạm và lợi ích được đạo luật bảo hộ;

- Áp dụng các phương tiện pháp luật tối thiểu gắn liền với sự trợ giúp pháp lý miễn phí;

- Nâng cao trách nhiệm của các bên đối với việc lựa chọn hành vi tố tụng;

- Quy định trách nhiệm pháp luật dân sự đối vói Tòa án do Tòa án thực hiện các hành vi sai khi tiến hành xét xử các vụ án dân sự;

- Khắc phục thái độ, hành vi coi thường pháp luật và nâng cao trình độ nghề nghiệp của thẩm phán;

- Xây dựng cơ chế bảo đảm mọi bản án dân sự có hiệu lực pháp luật phải được thi hành, chấp hành;

- Khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp dân sự thông qua thương lượng, hòa giải; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó.

Nguyên tắc của chính sách pháp luật tố tụng dân sự

Các nguyên tắc của chính sách pháp luật tố tụng dân sự bao gồm: (i) tính thượng tôn pháp luật và tính công bằng; (ii) pháp chế; (iiì) tính cân xứng của các phương tiện và các mục tiêu của chính sách; (iv) tính trí tuệ, tính hiện thực và tính hiệu quả của chính sách; (v) tính hệ thống, tính tổng thể và tính nhất quán trong hoạt động của các chủ thể xây dựng chính sách; (vi) tính có cơ sở khoa học; (vii) tính tương hợp của các quy tắc quy phạm quốc gia có hiệu lực trong lĩnh vực tố tụng tư pháp dân sự và thủ tục thi hành, chấp hành các bản án dân sự với các nguyên tắc và quy phạm được thừa nhận chung của pháp luật quốc tế.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.