1. Tại sao cần xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi?

Nhằm bảo vệ những đối tượng dễ bị tổn thương, những người dưới 18 tuổi, mà còn chưa hoàn thiện về thể chất và tâm sinh lý, trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự liên quan đến họ, cần phải đảm bảo đúng quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật. 

Dựa trên tôn trọng giá trị nhân văn này, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã đặt riêng một chương mang tên "Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi", nằm trong phần thứ bảy "Thủ tục đặc biệt". Chương này đã được cải tiến với nhiều điểm mới bao gồm các điều khoản và điều chỉnh, chú trọng đến việc "Xác định độ tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi" theo cách cụ thể.

2. Cách xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi theo BHTTHS 2015

Việc xác định độ tuổi của người bị buộc tội và người bị hại là dưới 18 tuổi đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giải quyết các vụ án hình sự. Nó tạo nền tảng pháp lý cho các cơ quan thực hiện tố tụng để xác định trách nhiệm hình sự của người vi phạm theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, trước đó thì Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không có hướng dẫn cụ thể về cách xác định độ tuổi của những người dưới 18 tuổi. Trong thực tế, đã có nhiều trường hợp cơ quan có thẩm quyền thực hiện tố tụng gặp khó khăn khi không đủ cơ sở để xác định chính xác độ tuổi của người bị buộc tội và người bị hại là dưới 18 tuổi. Để giải quyết tình huống này, các cơ quan tư pháp Trung ương đã phải ban hành Thông tư hướng dẫn. Trên cơ sở lựa chọn và tiếp thu các quy định của Thông tư 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12/07/2011 giữa các cơ quan Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về xác định độ tuổi đối với bị can, bị cáo và người bị hại là chưa thành niên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã thêm một điều luật cụ thể Điều 417 quy định rõ việc xác định độ tuổi của người bị buộc tội và người bị hại là dưới 18 tuổi như sau:

Thứ nhất, việc xác định độ tuổi của người bị buộc tội và người bị hại là dưới 18 tuổi được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền thực hiện tố tụng theo quy định của pháp luật.

Để xác định tuổi của người bị buộc tội và người bị hại là dưới 18 tuổi, cơ quan có thẩm quyền thực hiện tố tụng cần phải sử dụng mọi biện pháp để xác định chính xác ngày, tháng, năm sinh của họ, dựa trên các tài liệu hợp pháp như giấy khai sinh, sổ hộ khẩu gia đình, và các giấy tờ, tài liệu khác… Những tài liệu này phải được cơ quan thực hiện tố tụng (bao gồm cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) thu thập theo trình tự, quy định của pháp luật.

Thứ hai, nếu sau khi áp dụng mọi biện pháp hợp pháp mà vẫn không thể xác định chính xác tuổi, ngày, tháng, năm sinh của người bị buộc tội và người bị hại là dưới 18 tuổi, thì ngày, tháng, năm sinh của họ sẽ được xác định theo 5 trường hợp sau đây:

+ Trường hợp đã xác định được tháng, nhưng không thể xác định ngày, thì sẽ chọn ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh.

+ Trường hợp đã xác định được quý, nhưng không thể xác định ngày và tháng, thì sẽ chọn ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh.

+ Trường hợp đã xác định được nửa năm, nhưng không thể xác định ngày và tháng, thì sẽ chọn ngày cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh.

+ Trường hợp đã xác định được năm, nhưng không thể xác định ngày và tháng, thì sẽ chọn ngày cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.

+ Trường hợp không thể xác định được năm sinh, thì cần thực hiện giám định để xác định tuổi.

Nhìn vào Điều 417 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, ta thấy nó đã được sửa đổi và bổ sung so với các Điều 11 và 12 trong Thông tư số 01 liên quan đến cách xác định độ tuổi của bị can, bị cáo và người bị hại dưới 18 tuổi, bao gồm các điểm sau:

- Mở rộng đối tượng: Trong Thông tư số 01, việc xác định độ tuổi dưới 18 tuổi chỉ áp dụng cho bị can, bị cáo và người bị hại. Tuy nhiên, Điều 417 đã mở rộng phạm vi bao gồm cả người bị bắt và người bị tạm giữ, để cơ quan có thẩm quyền thực hiện tố tụng phải thực hiện các biện pháp xác minh tuổi của họ trước khi ra quyết định khởi tố vụ án hay khởi tố bị can. Điều này giúp hạn chế việc khởi tố vụ án hoặc khởi tố bị can sau đó phải đình chỉ khi người vi phạm dưới 18 tuổi.

- Xác định độ tuổi của người bị hại: Trong Thông tư số 01, cách xác định tuổi của người bị hại có thể thiên về lợi ích của bị can và bị cáo. Nó quy định rằng trong trường hợp đã thực hiện các biện pháp hợp pháp nhưng vẫn không xác định được chính xác ngày tháng sinh của người bị hại, sẽ lấy ngày đầu tiên của tháng, của quý, của năm đó để làm ngày tháng sinh. Tuy nhiên, Điều 417 đã sửa đổi và quy định cách xác định độ tuổi của cả người bị buộc tội và người bị hại là giống nhau, đó là lấy ngày cuối cùng của tháng, của quý, của năm để làm ngày, tháng sinh.

Tuy Điều 417 đã bảo đảm sự công bằng giữa người bị buộc tội và người bị hại theo nguyên tắc cơ bản của Bộ Luật Tố tụng hình sự "bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật", nhưng trong một số trường hợp, nó không thể hiện tinh thần của nguyên tắc suy đoán vô tội. Điều này có nghĩa là nếu không thể chứng minh được độ tuổi, thì nên tính theo hướng có lợi cho người bị buộc tội. Vì vậy, có thể xem xét thay đổi Điều 417 sao cho phù hợp với tinh thần của Thông tư số 01 để đảm bảo tính công bằng và suy đoán vô tội.     

3. Phối hợp trong việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi

Điều 6 trong Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21 tháng 12 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhân dân tối cao – Bộ Công an – Bộ Tư pháp – Bộ Công an – Bộ Lao động thương binh xã hội đã đưa ra quy định về việc phối hợp trong việc xác định tuổi của người bị buộc tội và người bị hại dưới 18 tuổi, theo các điểm sau đây:

- Xác định tuổi căn cứ vào giấy tờ và tài liệu: Việc xác định tuổi của người bị buộc tội và người bị hại dưới 18 tuổi được dựa trên một trong các giấy tờ và tài liệu sau đây: giấy chứng sinh, giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, sổ hộ khẩu, và hộ chiếu.

- Phối hợp khi giấy tờ, tài liệu mâu thuẫn hoặc không rõ ràng: Trong trường hợp các giấy tờ, tài liệu nêu tại khoản 1 mâu thuẫn, không rõ ràng hoặc không có, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải phối hợp với gia đình, người đại diện, người thân thích, nhà trường, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến người dưới 18 tuổi trong việc hỏi, lấy lời khai, xác minh để làm rõ mâu thuẫn hoặc tìm các giấy tờ, tài liệu khác có giá trị chứng minh về tuổi của người đó.

- Xác định tuổi trong trường hợp giới hạn thời gian: Nếu sau khi áp dụng các biện pháp hợp pháp nhưng chỉ xác định được khoảng thời gian tháng, quý, nửa đầu hoặc nửa cuối của năm hoặc năm sinh, cần tuân theo từng trường hợp cụ thể để xác định tuổi của người bị buộc tội và người bị hại theo khoản 2 của Điều 417 trong Bộ Luật Tố tụng hình sự.

- Xác định tuổi khi giám định chỉ xác định được khoảng độ tuổi: Nếu kết quả giám định tuổi chỉ xác định được khoảng độ tuổi của người bị buộc tội và người bị hại, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng sẽ lấy tuổi thấp nhất trong khoảng độ tuổi đã xác định được để xác định tuổi của họ.

Tóm lại, việc phối hợp trong xác định tuổi của người bị buộc tội và người bị hại dưới 18 tuổi được quy định như trên trong Thông tư số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH.

Bài viết liên quan: BLTTHS 2015 quy định mới việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi

Mời quý khách hàng liên hệ với Luật Minh Khuê qua số hotline: 1900.6162 hoặc qua email: lienhe@luatminhkhue.vn, chúng tôi luôn sẵn sàng hỗ trợ và giải đáp thắc mắc của quý khách hàng. Xin trân trọng cảm ơn!