1. Tội phạm mua bán người là gì?

 “Tội phạm mua bán người” là người thực hiện hành vi có lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến các quyền cơ bản của nạn nhân như quyền tự do, quyền con người,…coi con người như một món hàng để thực hiện việc trao đổi, mua bán với mục đích là kiếm lợi nhuận.

Khái niệm buôn người là việc mua bán con người với mục đích lao động cưỡng bức, nô lệ tình dục, hoặc bóc lột tình dục đem lại lợi ích tài chính cho kẻ buôn người hoặc những người khác. Điều này có thể bao gồm việc kiếm cô dâu trong bối cảnh hôn nhân bị ép buộc,hoặc dùng để lấy nội tạng hoặc mô, bao gồm cả việc thay thế và loại bỏ trứng.

 

2. Phòng ngừa tội phạm mua bán người là gì?

“Phòng ngừa tội phạm mua bán người” là tổng thể các biện pháp can thiệp chung và riêng áp dụng cho người phạm tội tiềm năng và nạn nhân tiềm năng của tội mua bán người, có xác định mục tiêu rõ ràng, được tiến hành bởi các thiết chế nhà nước và công đồng, trong đó nhấn mạnh vào việc tiếp cận các vấn đề có định hướng nhằm kiểm soát hành vi không phù hợp với xã hội, những hành vi phạm tội mua bán người, cũng như giải quyết các khía cạnh liên quan đến tội phạm mua bán người như sự rối loạn về tâm lý, mất an ninh, trật tự.

 

3. Chương trình hỗ trợ tái hòa nhập là gì? 

“Tái hòa nhập” là quá trình phục hồi tham gia về mặt kinh tế- xã hội khi chủ thể bị tách biệt ra khỏi cộng đồng của mình trong một khoảng thời gian nhất định. Đối với nạn nhân của tội phạm buôn bán người việc tái hòa nhập trong những bối cảnh khác nhau tùy theo nhu cầu,mối quan tâm và tình hình cá nhân như: Tái hòa nhập vào quê hương bản quán của họ, tái hòa nhập vào một cộng đồng mới tại quê hương,tái hòa nhập tại một công đồng mới của một quốc gia khác.

“ Chương trình hỗ trợ tái hòa nhập cho nạn nhân bị mua bán trở về”  là chương trình giúp cho nạn nhân của tội phạm mua bán người có thể tái hòa nhập với cộng đồng nơi mình sinh sống. Chương trình cung cấp các hỗ trợ về các nhu cầu được ăn, mặc, chăm sóc y tế và tâm lý, phòng ngừa- giảm nhẹ mức độ tổn thương của nạn nhân thông qua các chiến dịch nâng cao nhận thức giúp  người dân nhận biết từ đó hạn chế những nguyên nhân chính dẫn đến nạn buôn bán người như nhu cầu lao động giá rẻ, mua bán mại dâm. Chương trình đào tạo hỗ trợ  nạn nhân học văn hóa, học nghề,học kỹ năng sống, trợ cấp khó khăn ban đầu, hỗ trợ vay vốn giúp nạn nhân giải quyết vấn đề nghèo đói, ổn định tài chính lâu dài.

 

4. Phòng ngừa tội phạm chương trình hỗ trợ tái hòa nhập cho nạn nhân bị mua bán trở về

 - Đối tượng:

Chương trình hướng đến đối tượng là những nạn nhân của tội phạm mua bán người.Họ là những người đã bị tổn thương sâu sắc về tâm lý, thể chất trong quá trình bị mua bán và may mắn được giải cứu hoặc trốn thoát. Nạn nhân của tội phạm không chỉ là phụ nữ, trẻ em mà còn là nam giới, trẻ sơ sinh, báo thai, mua bán nội tạng, đẻ thuê…Với những thủ đoạn tinh vi phức tạp xâm phạm chủ yếu nhóm đối tượng thất nghiệp, học vấn thấp,bị bạo lực trong gia đình, ham mê vật chất, trả nợ thay gia đình hay nhẹ dạ cả tin để lừa nạn nhân làm cô dâu, làm vợ, làm công nhân trong các xí nghiệp hoặc trang trại, phục vụ ngành công nghiệp mại dâm.

Có thế thấy, đối tượng phòng ngừa tội phạm của chương trình là những nạn nhân sau trở về không có được nhiều sự hỗ trợ trong việc hòa nhập với cộng đồng dễ dàng trở thành nạn nhân tiềm năng của những kẻ buôn người còn lẩn trốn trong cộng đồng, ngăn chặn những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định phạm tội:  ảnh hưởng về tâm lý, sự sợ hãi căng thẳng khi nạn nhân trở lại công đồng của mình, những sự kỳ thị, phân biệt đối xử của công đồng đối với nạn nhân, áp lực từ gia đình khiến nạn nhân có những hành vi chống đối xã hội, bắt chước theo những gì mình đã trải qua trở thành tội phạm mua bán người.   

- Chủ thể chịu sự tác động: Chủ thể phòng ngừa tội phạm qua chương trình hỗ trợ tái hòa nhập cho nạn nhân bị mua bán trở về là những phương tiện truyền tải các phương pháp phòng ngừa tội phạm. Các chủ thể chịu tác động phòng ngừa tội phạm qua chương trình hỗ trợ tái hòa nhập cho nạn nhân bị mua bán trở về gồm có nhóm sau:

+ Các trung tâm dịch vụ hỗ trợ, các cơ quan nhà nước;

+ Các trung tâm sức khỏe (tâm lí và tâm thần);

+ Gia đình;

+ Trường học;

+ Thị trường lao động;

+ Hàng xóm và cộng đồng dân cư;

+ Địa điểm;

+ Lực lượng công an và hệ thống tư pháp hình sự.

 

5. Tính chất chương trình hỗ trợ tái hòa nhập cho nạn nhân bị mua bán trở về

Ta có thể thấy nguyên nhân dẫn đến nạn buôn bán người đó chính là: Nghĩa vụ với gia đình, bạo lực trong gia đình, sự ham mê vật chất, thiếu hiểu biết về các nguy cơ, khả năng tiếp cận thông tin kém, nghèo đói( gồm thất nghiệp,nhu nhập thấp, nhu cầu kiếm tiền,mong muốn thoát khỏi nợ nần hoặc có việc phải chi trả một khoản tiền lớn). Nếu không ngăn ngừa các nguyên nhân này, việc nạn nhân sau khi trở về có khả năng lại trở thành nạn nhân một lần nữa là rất cao.Thậm chí khi sống trong môi trường mua bán người từ trước đó hiểu được cách thức, thủ đoạn hành vi phạm tội của tội phạm mua bán người làm ảnh hưởng xấu đến nạn nhân, do bị đặt vào một số tình cảnh khó khăn mà chính nạn nhân bắt chước những hành vi đó trở thành người phạm tội.

Đề có thể có thể giải quyết những nguyên nhân có thể đưa nạn nhân trở thành một người phạm tội thì việc Hỗ trợ về tâm thần và tâm lý trong chương trình có vai trò tối quan trọng. Nhiều người bị buôn bán mô tả cảm giác “bất an” ở một số giai đoạn trong cuộc sống sau khi bị buôn bán của họ. Họ mô tả rằng họ cảm thấy hàng loạt những cảm xúc khác nhau, từ căng thẳng, hay quên, tức giận, bất an, chán nản, tới tuyệt vọng và vô vọng. Có hai lý do khiến cho những người này cảm thấy “không ổn” là: những khó khăn do hoàn cảnh bị buôn bán gây ra và những khó khăn họ phải đối mặt khi cố gắng phục hồi và tiếp tục đi lên từ hoàn cảnh bị buôn bán. Các nạn nhân có sự lo lắng,trầm cảm, đôi khi là những tổn thương tâm lý nghiêm trọng do cách ứng xử của cộng đồng nơi họ sinh sống sự phân biệt đối xử đối với nạn nhân, thái độ kì thị của những người xung quanh. Để giải thích tại sao trạng thái căng thẳng của nạn nhân của tội phạm mua bán người có thể dẫn đến hành vi phạm tội, học thuyết về “ Sự căng thẳng” của Robert K. Merton cho rằng thông qua sự xung đột và mâu thuẫn mục tiêu của toàn xã hội có thể dẫn đến việc một số người lựa chọn con đường phạm tội. Nhiều phương pháp thông qua sự phát triển của xã hội sử dụng hướng đến những cá nhân,những nhóm người trong xã hội nằm trong nguy cơ có thể phạm tội hoặc có những hành vi phản xã hội có nguyên nhân từ sự căng thẳng. Chương trình hỗ trợ phòng ngừa những hành vi chống đối với xã hội có thể xảy ra từ sự căng thẳng của nạn nhân bằng phương pháp điều trị tâm lý cho nạn nhân, giảm thiểu các tiền đề của sự căng thẳng của nạn nhân đối với xã hội bằng cách cung cấp thêm cho nạn nhân sự giáo dục,cảm xúc, dạy nghề, những kỹ năng nắm lấy cơ hội thành công, tránh những hành vi không đúng mực và chống lại những suy nghĩ tiêu cực gây ra sự căng thẳng sinh ra trong quá trình hòa nhập với cộng đồng.

 

6. Mô hình phòm ngừa

- Mô hình phòng thủ cộng đồng:

 Những người bị buôn bán phải đối mặt với những khó khăn rất thực tế về an toàn và an ninh sau khi trải qua việc buôn bán người. Trong một số ca, những người bị buôn bán đối mặt với những nguy cơ về mặt an toàn thân thể, bao gồm đe dọa hoặc bạo lực bởi những người có liên quan đến việc mua bán, gia đình hoặc người cộng tác của họ.  Điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải đánh giá rủi ro một cách toàn diện như một phần trong quá trình hồi hương và tái hòa nhập. Cần phải tính đến việc liệu nạn nhân có đối mặt với mối nguy nào không (từ kẻ mua bán người, trong phạm vi cộng đồng hay từ các thành viên gia đình) khi lên kế hoạch tái hòa nhập. Chương trình cần liên tục đánh giá các nguy hiểm đối với người bị buôn bán để đảm bảo người bị buôn bán được an toàn trong môi trường hồi hương của mình, không bị đe dọa bởi những kẻ mua bán người hay những người khác trong cộng đồng và cảm thấy an toàn để tiếp tục cuộc sống. Đảm bảo rằng nơi mà nạn nhân trở lại hòa nhập là một công đồng an toàn, dân cư có sự gắn kết với nhau, có sự quan tâm của các cấp chính quyền về đảm bảo an ninh ngăn ngừa tội phạm xâm phạm đến những nạn nhân tiềm năng.

Vì vậy việc xây dựng mô hình bảo vệ cộng đồng là điều cần thiết trong việc bảo vệ xã hội nói chung và bảo vệ nạn nhân tái hòa nhập nói riêng. Sự phối hợp của các tổ chức bảo vệ quyền của những nạn nhân của tội phạm mua bán người với chính quyền địa phương nơi mà nạn nhân muốn tái hòa nhập dẫn đến mô hình bảo vệ công đông được quan tâm hơn.Chính quyền địa phương tăng cường giáo dục cung cấp thông tin về phương thức, thủ đoạn trong chiêu bài lừa dẫn đến việc buôn bán người. Do đó cần tuyên truyền cung cấp thông tin tới các hộ gia đình để phòng tránh. Để mỗi người dân trong cộng đồng đều nâng cao ý thức cảnh giác đối với những trường hợp của tội phạm và những sự việc phản xã hội,nhận ra và báo cáo về những người khả nghi những hành động khá nghi trong cuộc sống hằng ngày của họ.Việc nâng cao chất lượng cũng dựa trên những nguyên tắc và khái niệm tạo nên mô hình bảo vệ công đồng:Nền tảng công đồng, kiểm soát xã hội không chính thức, hành động tập thể tại địa phương, tăng cường sửa đổi hành vi và các giải pháp phòng ngừa tình huống phạm tội

- Mô hình phát triển cộng đồng:

Chương trình tái hòa nhập cho nạn nhân bị mua bán thúc đẩy sự phát triển về vật chất, xã hội, sự phát triển của các tổ chức dưới dạng các trung tâm hay các nhóm tự lực nhắm tới giải quyết những mối quan tâm về mặt chính sách, liên quan đến phòng ngừa, bảo trợ pháp lý, và hợp tác và điều phối toàn quốc, qua làm việc cùng các bộ và cấp tỉnh để hỗ trợ các cuộc làm việc song phương, xây dựng năng lực, thực hiện nghiên cứu và vận động đưa ra những chính sách phù hợp và thực hiện chính sách hiệu quả. Các tổ chức quốc tế tại Việt Nam cung cấp các dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập như tư vấn, học văn hóa, trợ giúp pháp lý, học nghề và vốn đầu tư phát triển kinh tế, trên cơ sở kế hoạch tái hòa nhập do nạn nhân tự xây dựng và đã xác định hỗ trợ tâm lý là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chương trình hỗ trợ hòa nhập. Các chương trình có thể thực hiện trên phạm vi toàn quốc với đối tác là các bộ ngành và các nhà hoạch định chính sách, hoặc tập trung vào các địa bàn cụ thể với đối tác là cơ quan có thẩm quyền cấp tỉnh và các đối tác khác. Các đối tác gồm bộ ngành chính phủ (Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, và Bộ Tài chính), Quốc hội, và Văn phòng Chính phủ, Hội Phụ nữ, Hội Chữ thập đỏ, Phòng Thương mại và Công nghiệp, giới truyền thông, và chính quyền và công an địa phương (các cấp).  Sự phát triển của các tổ chức không chỉ phát triển để trợ giúp nạn nhân tái hòa nhập với cộng đồng mà các tổ chức còn giúp phòng ngừa tội phạm bằng những cách sau:

Thu hút các chính sách của Nhà nước cải thiện các cơ sở vật chất, hạ tầng liên quan đến chăm sóc sức khỏe, tâm lí, các vấn đề an sinh xã hội trong cộng đồng dân cư, các cơ sở dạy học văn hóa chính quy và không chính quy, các cơ sở đào tạo nghề, điều động thêm nhân lực để an ninh ở những khu vực gần biên giới,...

Sử dụng sự ảnh hưởng của các tổ chức, để cung cấp thông tin, kiến thức, tuyên truyền giáo dục người dân, bảo vệ cho nhóm người dễ bị tổn thương( phụ nữ, trẻ em,...) ; đẩy lùi sự kỳ thị, phân biệt đối xử những yếu tố làm bất bình đẳng xã hội. Từ đó gắn kết xã hội nâng cao ý thức phòng ngừa tội phạm mỗi cá nhân thực hiện trạng thái kiểm soát xã hội không chính thức.

Đào tạo kỹ năng, hỗ trợ tiền giúp nạn nhân tiếp cận với các cơ hội để phát triển kinh tế giải quyết nguyên nhân và nguy cơ biến người từng bị mua bán tiếp tục trở thành nạn nhân hay trở thành người phạm tội.