1. Về thủ đoạn mua bán người
Hiện nay, Chính phủ nhiều quốc gia đã áp dụng các chính sách nhập cư cứng rắn. Bên cạnh việc tuyển mộ, vận chuyển bằng các hình thức truyền thống, các băng nhóm buôn người phải tìm nhiều biện pháp tinh vi hơn để qua mặt nhà chức trách. Ví dụ, sau khi Pháp đóng cửa các trại tị nạn trong các năm 2016-2017, số người vượt biên vào Anh theo cách riêng lẻ giảm đi nhiều, thay vào đó là những vụ vượt biên quy mô do các băng đảng tội phạm tổ chức lại tăng vọt.63 Trong đó, nhiều đường dây buôn người ngày càng sử dụng nhiều biện pháp mạo hiểm hơn, bất chấp tính mạng của người di cư, trong đó có việc nhồi nhét hàng chục người trong thùng xe đông lạnh để vô hiệu hóa các thiết bị quét tầm nhiệt của an ninh biên giới. Bên cạnh đó, các băng nhóm phạm tội còn thực hiện các thủ đoạn hoàn toàn mới khác, đặt ra rất nhiều thách thức cho công cuộc phòng chống loại tội phạm này ở các quốc gia như xin thị thực và nhập cảnh hợp pháp vào nước khác, sau đó tìm cách trốn ở lại. Trong thời gian đó, các nạn nhân phải tìm kiếm công việc để có thu nhập trang trải chi phí sinh hoạt, trả nợ mặc dù thu nhập rất thấp và bấp bênh do không có giấy tờ hợp pháp. Vì vậy, các nạn nhân phải chấp nhận làm các công việc nặng nhọc, bất hợp pháp và bị chủ sử dụng lao động bóc lột, trả công một cách rẻ mạt, không ít người còn bị đưa đẩy đến những khu vực trồng “cỏ” (cần sa) trái phép, hay tham gia vào những băng đảng tội phạm và đối mặt với nhiều nguy hiểm đến thân thể, tính mạng cũng như rủi ro pháp lý nếu bị bắt. Thậm chí, ngay cả số ít người may mắn hơn khi tìm được việc làm và thu nhập ổn định thì vẫn phải thường trực đối mặt nguy cơ bị bắt giữ và trục xuất. Mặt khác, số người nhập cư không có giấy tờ hợp lệ sẽ không thể tiếp cận với các dịch vụ cơ bản trong đời sống, từ chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội cho tới nhà ở…
2. Về hình thức và mục đích khai thác trong hoạt động mua bán người
Trên thế giới hiện nay, phổ biến hơn cả vẫn là hai hình thức khai thác chính: buôn bán người để cưỡng bức lao động và bóc lột tình dục. Tuy có sự khác biệt trong khu vực theo tỷ lệ của mỗi loại, trong đó mặc dù bóc lột tình dục vẫn là chủ yếu nhưng tỷ lệ nạn nhân bị cưỡng bức lao động ngày càng tăng. Theo số liệu của UNODC, tính đến năm 2019, tỷ trọng cụ thể trong mục đích bóc lột đối với các nạn nhân của nạn buôn bán người là bóc lột tình dục chiếm 59%, cưỡng bức lao động chiếm 34% và các hình thức bóc lột khác là 7%.
Trong đó, tại những quốc gia mà nạn buôn bán người diễn ra phổ biến, các hình thức bóc lột nạn nhân rất đa dạng như: Tại Brazil, nhiều đối tượng buôn người núp dưới vỏ bọc của các tổ chức tôn giáo để tuyển mộ, sau đó đưa vào trong các trang trại, nhà máy để bóc lột. Tại Campuchia, lợi dụng tình trạng thiếu việc làm của phụ nữ, đa số các tổ chức tội phạm đã mua chuộc, lừa phỉnh khiến một số phụ nữ và trẻ em gái rời nơi ở tại nông thôn với lời hứa hẹn tìm việc làm ở các thành phố du lịch rồi sau đó đưa họ vào và thực hiện việc bóc lột tình dục trong các tiệm massage, quán karaoke và quán bia. Tại Ethiopia, thủ đoạn phổ biến của những kẻ buôn người là thường lừa dối cha mẹ của những đứa trẻ sống ở nông thôn bằng cách lừa phỉnh cho đi học hành, đồng thời làm công nhân để có tiền gửi về nhà. Tại Ấn Độ, các đối tượng chuyển giao người cho các chủ mỏ thông qua việc tạm ứng hoặc cho vay với lãi suất cắt cổ nhằm bẫy người lao động nghèo. Tại Vương quốc Anh, nhiều băng đảng buộc trẻ em phải tham gia vào các mạng lưới buôn bán ma túy. Tại Yemen, tồn tại tình trạng bắt cóc, sử dụng trẻ em vào các cuộc xung đột (theo báo cáo của Liên hợp quốc, hiện đã phát hiện có 842 trường hợp tuyển dụng và sử dụng trẻ em nam làm lính). Tại Nigeria, những kẻ buôn người gian lận để tuyển mộ phụ nữ và trẻ em gái làm việc, đưa đến châu Âu và ép họ bán dâm. Để ràng buộc nạn nhân, khi đến nơi, chúng bắt nạn nhân phải thực hiện lời thề juju để đảm bảo tuân thủ và đe dọa sẽ giết các nạn nhân nếu vi phạm lời nguyền. Tại Pakistan, tội phạm mua bán người thực hiện thủ đoạn lừa phỉnh người lao động bằng cách cho chính nạn nhân hoặc người nhà vay tiền để tạo sự ràng buộc trong quá trình bóc lột. Ở Ghana, đa số lao động trẻ em bị ép buộc lao động khổ sai trong ngành đánh bắt cá trên hồ Volta…
3. Về xu hướng phát triển của tội phạm mua bán người
Trong khoảng 10 năm gần đây, đa số tại các khu vực, nạn buôn bán người đều gia tăng, trong đó tăng mạnh nhất là khu vực Nam Á, Đông Á – Thái Bình Dương, khu vực Châu Âu và Trung Á. Trong hoạt động xét xử tội phạm, tăng nhanh nhất là khu vực Châu Âu và Châu Mỹ, điều này cũng thể hiện phần nào hiệu quả ngăn chặn tội phạm ở các quốc gia thuộc vùng này.
Tại khu vực Đông Nam Á, theo tài liệu công bố tại Hội thảo “Chiến lược phòng, chống mua bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em: Tăng cường tiếp cận thông tin và hệ thống bảo vệ cộng đồng” trong khuôn khổ Chương trình ưu tiên năm 2018 của Ủy ban liên Chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR), thực trạng phát triển kinh tế không đồng đều và nhu cầu về lao động kỹ năng thấp, giá rẻ ở Đông Nam Á là yếu tố chính để thúc đẩy nạn buôn bán người trong khu vực và từ khu vực này đến vùng khác trên thế giới. Nhiều nạn nhân của tội phạm buôn người ở Đông Nam Á ban đầu di cư qua biên giới để tìm kiếm cơ hội việc làm với thu nhập tốt hơn nhưng đã bị lừa dối hoặc bị buộc phải làm việc trong các thuyền đánh cá, các cơ sở nông nghiệp, xây dựng hoặc dịch vụ. Họ phải chịu nhiều hình thức bóc lột quản thúc, không cho liên lạc với bên ngoài. Ngoài ra, thực trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em gái để khai thác tình dục vẫn còn là một vấn đề nghiêm trọng ở hầu hết các nước trong khu vực. Đặc biệt, trong khu vực còn tồn tại nhiều nạn nhân bị sử dụng để hành nghề ăn xin, thực hiện hôn nhân ép buộc hoặc giả mạo, đi lừa đảo, đóng phim khiêu dâm, hoặc bị lấy nội tạng hay phục vụ cho thị trường lao động giá rẻ. Đông Nam Á hiện nay đã trở thành một trung tâm của nạn buôn bán người. Khu vực này vừa là một quốc gia nguồn và là đích đến cho nam giới, phụ nữ và trẻ em bị cưỡng bức lao động và buôn bán tình dục, đồng thời vừa là điểm trung chuyển cho những kẻ buôn người từ các nơi khác trên thế giới. Tại Đông Nam Á, hiện tồn tại tình trạng “nô lệ hiện đại” với khoảng gần 40 triệu đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị mắc kẹt trong một mạng lưới rộng khắp và bị cưỡng bức lao động, bóc lột tình dục và thực hiện hôn nhân ép buộc. Đa số các nạn nhân của nạn buôn người ở đây ban đầu đã đồng thuận đi di cư để tìm kiếm việc làm nhưng chỉ sau khi được đưa tới tận nơi, họ mới nhận 7 ILO và Walk Free Foundation 2017 ra mình đã bị lừa và trở thành đối tượng bị bóc lột.
4. Về quốc tịch của các nạn nhân trong vụ án mua bán người
Đa số nạn nhân bị buôn bán đến từ các nước kém phát triển hơn trong khu vực như Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam. Nạn nhân bị đưa đến các nước có trình độ phát triển cao hơn như Thái Lan, Malaysia và Singapore cũng như các điểm đến bên ngoài khu vực, đặc biệt là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Châu Âu, Bắc Mỹ, Trung Đông và Châu Úc. Trong đó, Thái Lan là điểm đến hàng đầu cho nạn nhân buôn người từ Campuchia, Lào và Myanmar, còn Malaysia là điểm đến chủ yếu của các nạn nhân từ Indonesia, Philippines và Việt Nam. Dữ liệu của Chính phủ Nhật Bản cung cấp cho thấy, tổng cộng đã có công dân của 12 nước bị kết án tội phạm buôn bán người ở Nhật Bản từ năm 2014 đến năm 2016, trong đó có khoảng 16% tổng số người bị kết án (74 người) là công dân Đông Nam Á, chủ yếu là người Thái Lan và Philippines (những người khác đến từ Trung Quốc, Brazil và Đài Loan). Những năm gần đây, Nhật Bản xác định tổng cộng có 129 nạn nhân bị buôn bán, trong đó có 50 người từ Nhật Bản (39%), 48 người từ Philippines (37%), 20 người từ Thái Lan (15,5%) và 07 người từ Campuchia (5%)983.
5. Tội mua bán người theo luật hình sự của một số nước trên thế giới
| STT | Quốc gia | Nội dung |
| 1 | Tội mua bán người trong pháp luật hình sự Trung Quốc | Trong BLHS Trung Quốc, tội mua bán người được quy định tại Chương IV “Tội xâm phạm quyền tự do cá nhân và quyền dân chủ của công dân”. Nếu như Việt Nam quy định Tội mua bán người tại Điều 150, Tội mua bán người dưới 16 tuổi tại Điều 151 thì luật Hình sự Trung quốc lại quy định hai loại tội này cùng vào một điều luật. Cụ thể như sau: Điều 240. Theo đó thì, người nào buôn bán phụ nữ, trẻ em thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm và phạt tiền; phạm tội thuộc một trong những tình tiết dưới đây thì bị phạt tù từ mười năm trở lên, hoặc tù chung thân, phạt tiền và tịch thu tài sản; nếu có tình tiết đặc biệt nghiêm trọng thì xử tử hình và tịch thu tài sản: +/ Người cầm đầu tổ chức buôn bán phụ nữ, trẻ em; +/ Buôn bán phụ nữ, trẻ em từ ba người trở lên; +/ Hiếp dâm phụ nữ bị đem bán; +/ Lừa gạt, cưỡng bức những phụ nữ bị đem bán phải bán dâm hoặc bán họ cho người khác mà những người này cưỡng bức họ phải bán dâm; +/ Dùng bạo lực, ép buộc hoặc các biện pháp gây mê để bắt cóc phụ nữ, trẻ em để bán họ; +/ Bắt cóc trẻ em vì mục đích để đem bán; +/ Nếu gây ra cho phụ nữ, trẻ em bị đem bán hoặc những người thân của bọ bị chết hoặc những hậu quả nghiêm trọng khác; +/ Đưa phụ nữ, trẻ em đem bán ra nước ngoài . Theo BLHS Trung Quốc, tội buôn bán phụ nữ, trẻ em là một trong những tội lừa gạt, bắt cóc, mua chuộc, tiếp đón, trung chuyển phụ nữ, trẻ em. Hình phạt đối với hành vi mua bán phụ nữ, trẻ em được quy định tại Điều 241 như sau: Người nào phạm tội mua phụ nữ, trẻ em bị đem bán thì bị phạt tù đến ba năm, bị giam giữ hoặc quản chế. Phạm tội mua phụ nữ bị đem bán, cưỡng chế để quan hệ tình dục với họ thì bị xử phạt theo quy định của Điều 236 Bộ luật này. Người nào có những hành vi phạm tội như mua phụ nữ, trẻ em bị đem bán rồi tước đoạt, hạn chế trái phép quyền tự do thân thể hoặc làm tổn hại làm nhục nạn nhân, thì bị xử phạt theo quy định của những điều luật có liên quan của Bộ luật này. Người nào mua phụ nữ, trẻ em bị đem bán và phạm các tội quy định các khoản 2 và 3 của Điều này sẽ bị trừng phạt về phạm nhiều tội cùng một lúc. Phạm tội mua phụ nữ, trẻ em và bán họ, thì bị xử phạt theo quy định của Điều 240 Bộ luật này. Người nào mua phụ nữ, trẻ em bị đem bán nhưng không cản trở phụ nữ bị đem bán trở về quê cũ theo nguyện vọng của họ, hoặc không lạm dụng trẻ em bị đem bán hoặc không ngăn cản các nỗ lực giải thoát số trẻ em đó thì có thể không bị truy cứu TNHS . Điều 242 quy định: Người nào dùng bạo lực uy hiếp, ngăn cản nhân viên, người thi hành công vụ để giải thoát cho phụ nữ, trẻ em bị đem bán thì bị xử phạt theo Điều 277 của Bộ luật này. Người nào cầm đầu một tổ chức ngăn cản nhân viên Nhà nước thi hành công vụ giải thoát cho trẻ em, phụ nữ bị đem bán, thì bị phạt tù đến năm năm, hoặc bị giam giữ; những người tham gia khác mà sử dụng biện pháp bạo lực hay uy hiếp thì bị xử phạt theo khoản 1 Điều này Có thể nhận thấy, luật Hình sự Trung Quốc quy định thành hai điều luật riêng biệt là tội buôn bán phụ nữ, trẻ em và tội mua phụ nữ, trẻ em. Luật Trung Quốc còn có quy định thêm hành vi: Dùng bạo lực, uy hiếp ngăn cản nhân viên, người thi hành công vụ khi họ giải cứu cho nạn nhân bị đem bán. Về hình phạt, pháp luật hình sự của Trung Quốc quy định nghiêm khắc hơn pháp luật hình sự của Việt Nam. Trung Quốc quy định hình phạt chính bao gồm: quản chế, giam giữ, tù có thời hạn, tù chung thân hoặc thậm chí cả tử hình. Trong khi pháp luật Việt Nam thì quy định hình phạt tối đa chỉ đến 20 năm tù. Bên cạnh đó, người phạm tội còn bị hình phạt bổ sung là phạt tiền và tịch thu tài sản. Pháp luật Trung Quốc quy định cụ thể tình tiết tăng nặng và quan tâm nhiều đến hậu quả mà nạn nhân gặp phải. Ý thức được hiệu quả hợp tác song phương trong phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống nạn buôn bán người, đồng thời nhằm tăng cường hợp tác thực thi pháp luật giữa hai nước, phòng ngừa, ngăn chặn, trừng trị hiệu quả các hoạt động phạm tội buôn bán người qua biên giới và bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bị buôn bán trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, ngày 15/9/2010 tại Bắc Kinh, hiệp định giữa Chính phủ nước ta và Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về tăng cường hợp tác phòng, chống buôn bán người đã được ký kết. |
| 2 | Tội mua bán người trong pháp luật hình sự Thái Lan | Thái Lan đã có một hệ thống pháp luật gồm Luật chống buôn bán người, bảo vệ trẻ em, mại dâm mới, rửa tiền, bảo vệ nhận chứng, dẫn độ, hợp tác quốc tế những vấn đề về hình sự, bảo vệ người lao động và đang dự thảo Luật Chống tội phạm có tổ chức. Luật chống buôn bán người của Thái Lan quy định các biện pháp đấu tranh chống buôn bán người và đặc biệt chú trọng vào việc bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân. Đặc biệt, luật đã hợp pháp hóa hành vi nhập cảnh bất hợp pháp, mại dâm và sử dụng giấy tờ giả mạo của nạn nhân bị buôn bán. Do đó, nếu không có sự cho phép bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Tư pháp thì cảnh sát không được buộc tội nạn nhân bị mua bán trở về các tội danh trên. Đồng thời luật dành hẳn một chương để quy định về các hình phạt từ và tiện nghiêm khắc đối với cá nhân, pháp nhân phạm tội buôn bán người, cản trở quá trình tố tụng về tội buôn bán người, các hành vi khác như tiết lộ thông tin điều tra, thông tin liên quan đến người bị buôn bán... Pháp luật hình sự Thái Lan quy định cụ thể và nghiêm khắc hơn pháp luật hình sự Việt Nam về tội này. Theo đó, các hành vi được coi là hành vi mua bán người kể cả việc có sự đồng ý của người đó. Mua bán người bằng cách đe dọa dùng vũ lực xúi giục bằng nhiều thủ đoạn đồi bại hoặc bằng bất kỳ hình thức nào khác chống lại ý muốn của người đó, bắt cóc hoặc che giấu người bị bắt cóc. Hình phạt cao nhất là chung thân và phạt tiền từ 80.000– 200.000 bạt. Luật cũng quy định trừng phạt đối với những người hỗ trợ việc thực hiện tội phạm buôn bán người, giúp đỡ bằng việc cung cấp tài sản, nơi hội họp cho những kẻ buôn bán người. Tất cả những tội phạm quy định tại Luật này sẽ được xem là những tội phạm nguồn quy định tại Luật Rửa tiền nhằm tịch thu tất cả tiền thu được của tội phạm buôn bán người. Không chỉ có luật, Thẩm phán, công tố viên, cảnh sát cũng có vai trò quan trọng trong quá trình tố tụng đối với nạn nhân trong các vụ án buôn bán người. Nếu những người này có hiểu biết về bản chất của buôn bán người, nhận thức không đúng đắn về nạn nhân bị buôn bán thì khó có thể giải quyết đúng vụ án và bảo vệ được nạn nhân. Thái Lan có luật bảo vệ người đi tìm việc, nhằm ngăn chặn tội mua bán phụ nữ dưới các hình thức tuyển người. Ngoài ra, cơ quan hành pháp Thái Lan còn ban hành quy định về việc cấp hộ chiếu cho phụ nữ Thái Lan ra nước ngoài có thể bị đình chỉ, nếu có cơ sở cho rằng động cơ ra nước ngoài không trung thực. Về hôn nhân giữa phụ nữ và người nước ngoài, chính phủ Thái Lan quy định: Người nước ngoài phải có một bảng kê khai về thu nhập, tình trạng hôn nhân với sự chứng nhận của sứ quán mà người đó có quốc tịch hoặc cơ quan có thẩm quyền và hai người sống tại nước anh ta cư trú chứng nhận. Ngoài ra, chính phủ Thái Lan cũng thực hiện nhiều chiến lược để ngăn ngừa các hình thức giới thiệu, ép buộc hoặc buôn bán người cho công nghiệp tình dục như thiết lập hệ thống giải đáp thắc mắc, trợ giúp những người phụ nữ nước ngoài đang bị bắt buộc mại dâm ở Thái Lan. Hệ thống này đã đưa nạn nhân trở về nước họ. Thực hiện kiểm tra các ga tàu xe và tuyến gần biên giới. Hỗ trợ Chính phủ các nước trong việc thực thi pháp luật đối với những công dân phạm tội buôn bán người. Đặc biệt, ngày 24/3/2008, tại Hà Nội, Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan về hợp tác song phương nhằm loại trừ nạn buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em và giúp đỡ nạn nhân bị buôn bán đã được ký kết nhằm tăng cường hơn nữa mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước, thúc đẩy song phương để trấn áp nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em. |
| 3 | Tội mua bán người trong pháp luật hình sự Philippin | Khác với quy định của pháp luật Việt Nam về tội mua bán người (mà trong đó nạn nhân bao gồm cả phụ nữ và nam giới), Philippin có một đạo luật riêng về tội mua bán phụ nữ. Tất cả những hành vi vận chuyển, dụ dỗ để mua bán phụ nữ lấy tiền, có được lợi nhuận hay tư liệu sản xuất, đạt được mục đích kinh tế hay vì mại dâm khai thác tình dục hoặc lao động cưỡng bức đều là hành vi phạm tội và bị nghiêm cấm, kể cả mọi hình thức tạo điều kiện cho việc mua bán người. BLHS Philippin nhấn mạnh và đưa ra hình phạt nghiêm khắc đối với mua bán người có tổ chức, có sự liên minh, liên kết và phân công vai trò rõ ràng trong tổ chức thực hiện tội phạm. Điều này cũng giống như trong BLHS Việt Nam quy định tình tiết phạm tội “có tổ chức” là tình tiết tăng nặng TNHS. BLHS Philippin còn quy định thêm người phạm tội là người bảo trợ của nạn nhân kể cả công chức Nhà nước, quân nhân tại ngũ, người thi hành pháp luật nếu mua bán người thì đều xét xử tăng nặng về TNHS. Cũng như luật hình sự Việt Nam, hành vi buôn bán người đặc biệt là phụ nữ, hình phạt cao nhất có thể đến 20 năm tù và phạt tiền từ 1 triệu pesos đến 2 triệu pesos tương đương với khoảng 250.000.000 VNĐ đến 500.000.000 VNĐ. Như vậy, so với mức phạt tiền của Luật Philippin thì mức phạt từ 20.000.000 VNĐ đến 100.000.000 VNĐ trong BLHS Việt Nam là quá ít, chưa phù hợp với tình hình trượt giá và lạm phát như hiện nay. Trong thời gian tới, chúng ta cần sửa đổi tăng mức phạt tiền để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Về hôn nhân giữa phụ nữ Philippin với người nước ngoài, luật Philippin quy định việc môi giới kết hôn với người nước ngoài thông qua đặt hàng qua mạng là phạm pháp để hạn chế việc lợi dụng môi giới kết hôn với người nước ngoài để buôn bán phụ nữ. Hành vi môi giới kết hôn với người nước ngoài thông qua đặt hàng qua mạng được xếp vào tội buôn bán người, với mức án phạt tù có thể lên đến 20 năm đối với kẻ phạm tội. Họ còn có quy định hình phạt đối với người không tham gia mua bán phụ nữ nhưng có sử dụng phụ nữ bị mua bán. Vi phạm lần đầu tiên, lao động công ích 6 tháng phạt 50 nghìn pesos (khoảng 12.500.000 VNĐ), tái phạm phạt 1 năm và 100 nghìn pesos (khoảng 25.000.000 VNĐ). |
Trên đây là nội dung về "Tội mua bán người theo luật hình sự của một số nước trên thế giới" trường hợp còn điều gì thắc mắc cần hỗ trợ vui lòng gọi lên tổng đài 19006162 hoặc qua email lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ giải đáp.Trân trọng!