1. Phương pháp rà soát, xác định tiêu chí đo lường nghèo đa chiều
Theo quy định tại Điều 1 Thông tư 07/2021/TT-BLĐTBXH quy định về phương pháp rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Quyết định số 24/2021/QĐ-TTg năm 2021 thì để đánh giá thu nhập và xác định mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản của các hộ nghèo và cận nghèo, quá trình khảo sát và thu thập thông tin được tiến hành theo các hướng dẫn trong Phụ lục III và Phụ lục IV của Thông tư này.
Đối với việc ước lượng thu nhập, chúng tôi sử dụng hệ thống tính điểm nhằm tạo ra một chỉ số đánh giá, được thể hiện qua điểm A, dựa trên thu nhập bình quân đầu người hàng tháng. Trong khu vực nông thôn, mỗi 140 điểm tương ứng với mức thu nhập bình quân đầu người là 1.500.000 đồng; còn ở khu vực thành thị, mỗi 175 điểm đều tương ứng với mức thu nhập bình quân đầu người là 2.000.000 đồng. Đối với mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, chúng tôi sử dụng hệ thống tính điểm, với mỗi 10 điểm biểu thị cho một chỉ số đo lường về mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản.
Chú ý: Theo quy định tại Điều 1 của Thông tư 02/2022/TT-BLĐTBXH về việc sửa đổi và bổ sung một số điều của Thông tư 07/2021/TT-BLĐTBXH, thông báo về sự thay thế như sau:
- Phụ lục III của Thông tư 07/2021/TT-BLĐTBXH đã được thay thế bằng Phụ lục III mới được ban hành cùng với Thông tư 02/2022/TT-BLĐTBXH. Sự thay đổi này là kết quả của việc cập nhật và điều chỉnh để phản ánh các quy định và hướng dẫn mới nhất trong lĩnh vực này.
- Tương tự, Phụ lục IV của Thông tư 07/2021/TT-BLĐTBXH cũng đã được thay thế bằng một bản mới, Phụ lục IV kèm theo Thông tư 02/2022/TT-BLĐTBXH. Quá trình này nhằm đảm bảo rằng thông tin và hướng dẫn được cung cấp cho cộng đồng là hoàn chỉnh và cập nhật nhất có thể.
* Để phân loại các hộ nghèo và hộ cận nghèo, chúng ta sử dụng các tiêu chí sau:
- Hộ nghèo được xác định như sau: Trong khu vực nông thôn: Hộ có điểm A nhỏ hơn hoặc bằng 140 điểm và điểm B lớn hơn hoặc bằng 30 điểm. Trong khu vực thành thị: Hộ có điểm A nhỏ hơn hoặc bằng 175 điểm và điểm B lớn hơn hoặc bằng 30 điểm.
- Phân loại các hộ cận nghèo dựa trên các tiêu chí sau: Trong khu vực nông thôn: Các hộ cận nghèo được xác định như sau: Hộ có điểm A nhỏ hơn hoặc bằng 140 điểm và điểm B nhỏ hơn 30 điểm. Trong khu vực thành thị: Các hộ cận nghèo được định nghĩa là những hộ có điểm A nhỏ hơn hoặc bằng 175 điểm và điểm B nhỏ hơn 30 điểm.
Trong quá trình này, việc rà soát hộ nghèo và hộ cận nghèo đóng vai trò quan trọng, được thực hiện thông qua phương pháp khảo sát và thu thập thông tin từ các hộ gia đình. Mục tiêu của quá trình này là đánh giá thu nhập và định rõ mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản của các hộ nghèo và cận nghèo, và đặc biệt, đảm bảo sự phù hợp với các tiêu chuẩn nghèo được quy định trong Nghị định 07/2021/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2021 của Chính phủ, về chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025. Đây là bước quan trọng trong việc xác định và đáp ứng nhu cầu của các hộ dân, đồng thời tạo điều kiện cho họ có cơ hội phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống.
2. Trách nhiệm bổ sung hệ thống thu thập số liệu chỉ số nghèo đa chiều trong khảo sát mức sống dân cư?
Điều 4 Nghị định 07/2021/NĐ-CP quy định Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang tiến hành các hoạt động sau:
- Mở rộng hệ thống thu thập số liệu đa chiều, bao gồm cả các chiều và chỉ số liên quan đến nghèo đa chiều trong quá trình khảo sát mức sống của dân cư. Mục tiêu của việc này là cung cấp cơ sở dữ liệu đầy đủ và chính xác nhằm theo dõi và đánh giá chi tiết hơn về tình trạng nghèo đa chiều tại cả cấp quốc gia và địa phương.
- Hàng năm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ công bố các chỉ số và tỷ lệ liên quan đến nghèo đa chiều. Điều này bao gồm tỷ lệ nghèo chung (được điều chỉnh dựa trên chỉ số giá tiêu dùng - CPI), tỷ lệ hộ thiếu hụt về thu nhập và các dịch vụ xã hội cơ bản, cùng với chỉ số nghèo đa chiều (MPI). Bằng cách này, việc công bố thông tin sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan và đa chiều về tình hình nghèo, từ đó giúp xác định các biện pháp và chính sách phù hợp để giảm bớt tình trạng này và tăng cường phát triển bền vững.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tiến hành một công việc quan trọng là bổ sung hệ thống thu thập dữ liệu đa chiều, bao gồm các chỉ số và các yếu tố khác nhau liên quan đến tình trạng nghèo đa chiều trong quá trình khảo sát mức sống của người dân. Hành động này không chỉ giúp cung cấp cơ sở dữ liệu chi tiết và chính xác, mà còn hỗ trợ việc theo dõi và đánh giá tình hình nghèo đa chiều ở cả quốc gia và các cấp địa phương. Điều này sẽ làm nền tảng cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp cụ thể hơn nhằm giảm bớt nghèo và đảm bảo sự phát triển bền vững cho cộng đồng.
3. Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình giai đoạn 2022 - 2025
Theo quy định tại khoản 2 của Điều 3 trong Nghị định 07/2021/NĐ-CP, đặc điểm và tiêu chí xác định chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ có mức sống trung bình giai đoạn 2022 - 2025 được quy định một cách cụ thể và chi tiết như sau:
- Chuẩn hộ nghèo:
+ Trong khu vực nông thôn: Được xác định cho các hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng không vượt quá 1.500.000 đồng. Ngoài ra, đây cũng là các hộ mà từ ít nhất 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản đều đang gặp khó khăn.
+ Trong khu vực thành thị: Được áp dụng cho các hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng không vượt quá 2.000.000 đồng. Tương tự như khu vực nông thôn, các hộ ở đây cũng phải đối mặt với thiếu hụt từ ít nhất 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản.
- Chuẩn hộ cận nghèo được xác định như sau:
+ Trong khu vực nông thôn: Đây là các hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng không vượt quá 1.500.000 đồng. Tuy nhiên, dù có thu nhập nhưng hộ này vẫn đang gặp thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản.
+ Trong khu vực thành thị: Nơi đây, chuẩn hộ cận nghèo được áp dụng cho các hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng không vượt quá 2.000.000 đồng. Mặc dù thu nhập này cao hơn so với khu vực nông thôn, nhưng các hộ vẫn đang phải đối mặt với thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.
- Chuẩn hộ có mức sống trung bình được định nghĩa như sau:
+ Trong khu vực nông thôn: Đây là các hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ trên 1.500.000 đồng đến 2.250.000 đồng. Nhóm này thường được xem là có mức sống ổn định, không thuộc vào hạng mục nghèo hoặc cận nghèo, nhưng cũng cần được chú ý và hỗ trợ trong việc duy trì và phát triển mức sống này.
+ Trong khu vực thành thị: Là các hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ trên 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Dù thu nhập này cao hơn so với khu vực nông thôn, nhưng vẫn cần quản lý và sử dụng tài nguyên một cách thông minh để đảm bảo một mức sống trung bình ổn định và bền vững cho các hộ thành thị.
Điều quan trọng cần lưu ý là chuẩn hộ nghèo, chuẩn hộ cận nghèo và chuẩn hộ có mức sống trung bình, được quy định tại khoản 2 của Điều 3 trong Nghị định 07/2021/NĐ-CP, không chỉ đơn giản là các chỉ tiêu số liệu, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc đo lường và theo dõi mức độ thiếu hụt về thu nhập và các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân.
Hơn nữa, những chuẩn này cũng là cơ sở để xác định đối tượng mà các chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội và các chính sách kinh tế - xã hội khác giai đoạn 2022 - 2025 sẽ được áp dụng. Điều này giúp chính phủ và các cơ quan có thể định hình các biện pháp hỗ trợ một cách hiệu quả và phù hợp nhất cho những nhóm dân cần thiết, nhằm đảm bảo một sự phát triển toàn diện và bền vững cho cộng đồng.
Ngoài ra, có thể tham khảo: Trách nhiệm nâng cao nhận thức người dân về chuẩn nghèo đa chiều. Còn khúc mắc, liên hệ 1900.6162 hoặc gửi email tới: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Xin cảm ơn.