NỘI DUNG TƯ VẤN
1. Marketing tri thức:
Một báo cáo do PricewaterhouseCoopers công bố năm 1999 đã phát hiện ràng thị trường li-xăng SHTT toàn cầu đã tăng vùn vụt trong mưòi năm trước đó, đạt tới trên 100 tỷ USD. về mạt này, thông tin bằng độc quyền sáng chế đóng một vai trò quan trọng, độc biệt là trong việc hỗ trợ đánh giá tiềm năng thương mại hoá SHTT Một minh hoạ hay về thị trường mới nổi này là trường hợp IBM và Internet Capital Group đã gia nhập danh sách đang tiếp tục dài thêm của các công ty sáng tạo ra hình thức trao đổi trực tuyến nhàm định giá, mua, bán và li-xăng bằng độc quyền sáng chế cũng như các đối tượng SHTT khác. IBM đã đóng góp vào đó tài sởn thuộc IP Network của mình, một website thiên về nội dung cung cấp hàng loạt thông tin miễn phí về bằng độc quyền sáng chế châu Âu, Nhật Bàn và Hoa Kỳ. Một số điểm môi giới thông tin SHTT đã được thiết lập để cung cấp sự định giá giá trị gia tăng của thông tin về bằng độc quyền sáng chế và các dịch vụ về li-xăng bằng độc quyền sáng chế. Gần đây, tài sản thuộc SHTT cũng đã được thừa nhận là tài sản tài chính. Người bán và người mua SHTT có thể quản lý SHTT của mình như tài sản tài chính hệt như các nhà đầu tư quản lý cổ phiếu, quyền mua bán lựa chọn và các công cụ tài chính khác.
2. Thị trường đang hình thành trên mạng dành cho bằng độc quyền sáng chế
Theo một công ty tư vấn là Tập đoàn công nghệ Anh quốc (BTG), chỉ có 3% tiềm năng thương mại của SHTT vói quy mô toàn cầu được hiện thực hoá trong nãm 1999; con số này chuyển đổi thành khoảng 110 tỷ USD từ một cái bánh trị giá 3 nghìn tỷ USD. Trong số 110 tỷ USD đó, chỉ có khoảng 500 triệu có xuất xứ từ trường đại học, nơi tiến hành phần lớn các hoạt động R&D. Chỉ riêng IBM, công ty từ lâu đã ra tiêu chuẩn cả về số lượng bằng độc quyền sáng chế được cấp cũng như thu nhập từ việc li-xăng các bằng đó, đã tạo ra nguồn tiền thù lao hàng năm 1,25 tỷ USD. Tuy nhiên, hầu hết các công ty khổng lồ đều có xu hướng bào vệ cẩn thận hơn các sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá và các quyền SHTT khác của mình.
Ông Jeff Weedman, phó chủ tịch kinh doanh đối ngoại và li-xăng toàn cầu của Proctor Ằ Gamble đã nói: "Một năm rưỡi trưóc đây, chúng tôi đã tiến hành một cuộc khảo sát và thấy ràng chúng tôi đã chi 1,5 tỷ USD cho R&D nhưng chúng tôi chỉ sử dụng dưới 10% trong số đó cho các sản phẩm của chính mình". Công ty này, công ty đang nắm giữ 27.000 bằng độc quyền sáng chế trên kháp thế giới và là một trong những người sử dụng lón nhất của PCT thuộc WIPO, đã đột ngột thay đổi triết lý về SHTT của mình và hiện nay tất cả các bằng độc quyền sáng chế cũng như các công nghệ khác của họ đều sân sàng để đưa vào li-xãng, bán hoặc liên doanh.
Dưói sức ép về tăng thu nhập, tại những nơi trao đổi SHTT trực tuyến mới nhiều công ty đang chào bán hoặc li-xăng tất cà mọi thứ, từ những bí mật R&D được đánh giá cao đến những hệ thống công nghệ thông tin nội bộ được xác định rõ ràng. Ngưòi mua là những công ty Iđn khác đang muốn cắt giâm chi phí R&D bàng cách mua các kết quà nghiên cứu của người khác. Để định giá bằng độc quyền sáng chế, Tổ chức Trao đổi li-xăng và bằng độc quyền sáng chế sử dụng một mô hình toán học dựa trên lý thuyết về quyền mua bán theo lựa chọn đã được giải Nobel của Robert Merto, Myron Scholes và Fischer Black. Cách làm này đã chứng tỏ hoạt động tốt trong việc phân tích những yêu cẩu khác nhau mà các chủ nợ và các cổ đông đưa ra đối vói công ty. Những người sử dụng nói ràng các thị trường "doanh nghiệp với doanh nghiệp" này chào hàng một phương thức nhanh chóng, hiệu quà và chi phí thấp cho việc chuyển giao công nghệ và tạo nguồn thu nhập trên cơ sở những sáng chế có lẽ không thể được tạo ra bàng cách khác.
Sự thừa nhận ngày càng rõ nét đối với SHTT và vai trò của nó trong việc tạo ra tri thức và sự thịnh vượng đang thúc đẩy sự phát triển các phương pháp định giá và kế toán mới tốt hơn đối với SHTT dưối danh nghĩa là một loại tài sân vô hình, hoặc một dạng vốn tri thức mđi và hiện đại trong giói doanh nghiệp. SHTT dưòng như được chấp nhận là sự biểu hiện thương mại của tri thức mới và một công cụ để tạo ra sự thịnh vượng. Khả năng mua bán SHTT như một hàng hoá mang tính kinh tế đã tìm thấy một sự thể hiện mới dươi dạng thị trường tri thức và công nghệ. Thị trường tri thức mới tận dụng công nghệ dựa trên mạng và những chiến thuật marketing mới nhất. Sự thừa nhận SHTT trên thị trưởng là bằng chứng thuyết phục hơn vể tác động kinh tế ngày càng tăng của nó.
3. Phương thức quản lý sở hữu trí tuệ hiện đại và nền kinh tế mới:
Quản lý SHTT đang trở thành một yếu tố chính trong hoạt động quản lý kinh doanh của doanh nghiệp. Nó ảnh hưởng đến M&A, tạo ra những liên doanh, hình thành những thoà thuận R&D và là cơ sở cho thoả thuận li-xăng. Những công ty đang thành lập liên minh vói nhau để nâng cao giá trị SHTT của mình và để đạt được những lợi thế cạnh tranh cùng có lợi. Nhiều khi những liên minh như vậy sẽ mang lại cho những công ty liên quan sự ảnh hưởng tăng lên đáng kể trong lĩnh vực công nghệ cụ thể của mình, cho phép họ áp đặt các tiêu chuẩn của mình lên đối thủ cạnh tranh trong lĩnh vực đó. Việc xác định vị trí chiến lược của tài sản thuộc SHTT có thể tạo ra sự khác biệt về lợi nhuận của công ty. Việc xác định vị trí chiến lược như vậy nâng cao thu nhập thông qua việc triển khai R&D và thu thập thông tin thị trường tốt hơn, tạo điều kiện cho thu nhập từ li-xăng, cũng như cho tiềm năng về M&A.
Tài sản thuộc SHTT có thể góp phần quan trọng vào giá trị thị trường của một công ty. Một số công ty có giá trị thị trường chính là tài sản thuộc SHTT; trong đó có Walt Disney, Microsoft và P&G. Bằng chứng cho thấy ở cà ba công ty này hơn 80% giá trị của họ gắn vói SHTT và tài sởn vô hình. Ví dụ, Microsoft được coi là có giá trị theo sổ sách là 90 tỷ USD. Tuy nhiên, vốn chuyển đổi trên thị trường của công ty này ước tính vào khoảng 270 tỷ USD. Phần lón trong số 180 tỷ USD tính thêm vào đó được coi là có xuất xứ từ tài sán thuộc SHTT bao gồm nhãn hiệu hàng hoá, bồng độc quyền sáng chế, bí mật thương mại và bí quyết.
Để hoạt động quản lý doanh nghiệp có thể tối đa hoá được các tài sản của một hãng, cần phải thực hiện một sự nỗ lực rõ rệt làm cho giói kinh doanh hiểu rõ và tập trung chú ý vào SHTT .
4. Phương thức mới về quản lý sở hữu trí tuệ ở doanh nghiệp:
Chiếm hữu và quản lý tài sản thuộc SHTT đang trở thành một yếu tố quyết định thành công hay thất bại của công ty. Công việc quản lý SHTT trưỏc đây bị giói hạn trong những bộ phận pháp lý đang ngày càng được chuyển giao nhiều hơn cho những bộ phận tích cực ủng hộ SHTT Điều này đặc biệt đúng đối với một số hãng công nghệ mới đang phát triển rất nhanh và đầu tư lón cho R&D. "Thị trường công nghệ sinh học dự kiến đạt giá trị 38 tỷ USD vào năm 2005... Trung bình, ngành công nghiệp công nghệ sinh học tái đầu tư khoảng 45% thu nhập hàng năm của mình cho R&D. Điều đó có nghĩa là gần một nửa giá trị của ngành công nghiệp này gán với vốn trí tuệ. Rác rối là ở chỗ vốn trí tuệ là thứ hàng hoá rất dễ bị chiếm đoạt: nó có thể bị đánh cắp khá dễ dàng, đựơc sao chép và sau đó đựoc bán mà không có sự cho phép ... việc cấp bằng độc quyền sáng chế được coi là quan trọng đối với những nhà nghiên cứu.
Đã diễn ra những thay đổi gì trong quản lý SHTT ở các doanh nghiệp đó? Dươi đây là một số ví dụ:
- Bàng việc li-xăng công nghệ CD cho các đối thủ cạnh tranh ngay từ giai đoạn đầu, Philips và Sony đã ngàn chặn được đối thủ cạnh tranh phát triển các tiêu chuẩn thay thế có khả năng gây ra một cuộc chiến về định dạng kéo dài và tốn kém giống như cuộc chiến giữa các định dạng video VHS và Betamax.
- IBM thường tránh phải mua lại vói khoản chi phí lớn, một phần vì có khả năng đưa SHTT của mình vào sản phẩm và kinh doanh mới, bàng cách đầu tư trên 5 tỷ USD mỗi năm cho R&D. Những nỗ lực mang tính chủ động về SHTT của IBM đã tăng phí li-xăng bằng độc quyền sáng chế 3.300% giữa năm 1990 (30 triệu USD) và năm 2000 (1 tỷ USD).
- Hitachi đã từng bưóc phát triển chiến lược bằng độc quyền sáng chế của mình và đã kiếm được 455 triệu USD trong năm 1996. Tỷ lệ thu nhập trên chi phí (EER) của Hitachi đã tãng từ con số 0 nãm 1990 lên 4,5 nãm 1996, qua 4 giai đoạn tiến triển chiến lược bằng độc quyền sáng chế.
Quản lý SHTT không chỉ xuất hiện ở khu vực tư nhân. Ví dụ, năm 1987 một viện nghiên cứu khoa học quốc tế nổi tiếng là CERN (Tổ chức nghiên cứu hạt nhân châu Âu) đã thành lập Văn phòng liên lạc công nghiệp và công nghệ để kích thích quan hệ tương tác với ngành công nghiệp và trợ giúp về các vấn đề liên quan đến SHTT Văn phòng liên lạc này cũng bảo đảm cho SHTT của tổ chức đó được bảo hộ đầy đủ và được khai thác có hiệu quả. Một số trường đại học cũng có văn phòng SHTT mà chức năng duy nhất là quản lý tài sản thuộc SHTT .
5. Lập bản đồ bằng độc quyền sáng chế:
Việc chăm lo làm cho SHTT trở thành phần cốt lõi trong chiến lược kinh doanh không chỉ là một vũ khí tấn công; nó cũng có ý nghĩa quyết định trong phòng vệ. Một phương thức có hiệu quà để phân tích các xu hướng R&D trong một số lĩnh vực công nghệ cũng như trong chiến lược R&D và kinh doanh của các đối thủ cạnh tranh là lập ra cái gọi là bản đồ bằng độc quyền sáng chế, trong đó tất cả các bằng độc quyền sáng chế quan trọng được giới thiệu trong các mối liên hệ về công nghệ giữa chúng. Bản đồ bằng độc quyển sáng chế có thể bao gồm sự phân tích về vấn đề các bằng độc quyền sáng chế của công ty và của đối thù cạnh tranh liên quan tói công nghệ và sản phẩm của công ty như thế nào. Việc làm này không chỉ nhàm tránh xâm phạm SHTT mà còn là một công cụ để nắm bắt các xu hương công nghệ và vạch chiến lược đầu tư của công ty trong R&D và marketing. Cho tỏi gần đây, nhiều thành viên ban lãnh đạo doanh nghiệp vẫn nghĩ ràng không cần thiết phải tiêu tốn thồi gian và tiền bọc để lập bản đồ toàn cành về bằng độc quyền sáng chế, nhưng hiện nay đó là yếu tố trọng yếu trong chiến lược của doanh nghiệp. Trước đây, những nỗ lực lập bản đồ bằng độc quyền sáng chê' thường phải mất hàng tháng thì nay chỉ cần vài giờ hoặc vài ngày. Mối quan hệ giữa các bằng độc quyền sáng chế, các đối thủ cạnh tranh, hoạt động nghiên cứu và kinh doanh của công ty hiện nay có thể được thể hiện trong các báo cáo ba chiều, nêu bật được các mô hình và mối quan hệ trong việc phát triển công nghệ.
Nhiều cơ sở dữ liệu thương mại và các gói phần mềm đã được phát triển để hỗ trợ các công ty quản lý SHTT Các dịch vụ và sản phẩm này cung cấp một tập hợp công cụ phân tích động, áp dụng cho một cơ sở dữ liệu về bằng độc quyền sáng chế có quy mô toàn thế giơi, cho phép khách hàng hiểu rõ được cơ hội đối vói tài sản mang tính đổi mới của mình. Các dịch vụ và sản phẩm đó tạo ra một diễn đàn cho phép khách hàng hình dung ra một cách đây đủ vị trí cùa họ trên thị trường, vẻ tài sản mang tính đổi mới của họ và tài sản mang tính đổi mới của các đối thủ cạnh tranh của họ. Đây là sự thúc đẩy hiểu biết về những xu hương công nghiệp và cơ hội đổng thời tạo điều kiện cho việc ra những quyết định nhanh chóng và có thông tin đầy đủ trong những lĩnh vực chiến lược then chốt như R&D, M&A, li-xăng công nghệ và thu thập thông tin cạnh tranh.
Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!