1. Trách nhiệm nợ quá hạn khi vay tín chấp là gì ?

Xin chào luật sư! chị gái e, có vay tín chấp bên ngân hàng 15.000.000 hợp đồng thanh toán trả góp 18 tháng mỗi tháng 1.225.000 dã đóng đc 11 tháng. nhưng đến nay gia đình có gặp một số khó khăn. ( làm may gia công bị chủ quỵt tiền. thiệt hại cũng gần 20.000.000 tương đương 4 tháng tiền lương). Tháng vừa rồi vẫn đóng nhưng đóng trể nữa tháng. hiện tại cũng đã quá một tháng so với ngày đóng nhưng vẫn chưa đủ tiền để đóng tiếp , bên công ty có dùng sđt lạ nhắn tin uy hiếp nếu k thanh toán sẽ bị kiện ra tòa đi tù.... gây hoang mang tâm lý cho chị và gia đình( nhà có mẹ bị bệnh tim rất nặng và người bên công ty cứ liên tục gọi điện đe dọa khiến mẹ ở nhà trở bệnh).
Vậy em muốn hỏi là nếu như em kiện lại bên kia vì nhân viên đe dọa ảnh hưởng đến tinh thần sức khỏe của người nhà em . Vậy em có được quyền khởi kiện không ?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Với trường hợp của bạn , chúng tôi xin đưa ra phân tich theo hai khía cạnh :

Một là , việc chị bạn không có khả năng thanh tóan nợ khi đến hạn là vi phạm hợp đồng , công ty tài chính có quyền phạt vi phạm hợp đồng theo thỏa thuận giữa chị bạn và công ty , mặt khác khi hết hạn hợp đồng , chị bạn vẫn không thỏa thuận lại về việc xin gia hạn hợp đồng hay xin tạm hoãn nghĩa vụ trả nợ do gặp khó khăn, số tiền chị bạn nợ là 7 tháng ( xấp xỉ 9 triệu đồng ) thì họ có thể khởi kiện chị bạn ra tòa án hoặc trình báo lên công an nếu chị bạn có yếu tố hình sự.

Hai là , Việc họ gọi điện gây hoang mang cho gia đình và khiến bệnh tim của mẹ bạn tái phát , vậy cần xác định xem họ gọi điện để đòi tiền ai , nếu họ chỉ gọi cho chị bạn để đòi tiền thì đó hoàn toàn là quyền của họ , nhưng nếu họ gọi điện làm phiền mẹ bạn và những người thân khác trong gia đình thì điều này trái với quy định của pháp luật bởi chị bạn đã thành niên và phải chịu trách nhiệm với mọi hành vi của mình , mẹ bạn không có nghĩ vụ phải trả nợ cho chị bạn , bạn có thể tố giác ngân hàng này về hành vi quấy rối người khác qua điện thoại , công ty này sẽ bị buộc dừng việc gọi điện thoại này lại và sẽ bị xử phạt hành chính về hành vi này theo nghị định 15/2020/NĐCP

>> Xem thêm:  Mức thuế thu nhập cá nhân khi nhận thừa kế ? Tư vấn tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất ?

2. Rủi ro khi vay nợ mà không trả được ?

Xin chào công ty luật Minh Khuê. Em có một vấn đề mong các anh chị tư vấn. Cách đây 5 năm bạn em có vay nóng số tiền 40.000.000 đồng lãi suất 5000đ/ngày và đã trả rất nhiều so với số tiền gốc này. Cách đây hơn 2 năm bạn em không đủ khả năng trả lãi và gốc nữa nhưng do bị chủ nợ ép viết 30 triệu tiền lãi nhập vào gốc và bạn ấy đã trả 7 triệu trong số đó rồi. Gần đây chủ nợ cho người đe dọa phải trả không sẽ xử lý.
Vậy xin luật sư tư vấn cho em và bạn em cách giải quyết vấn đề này với ạ ?
Em xin cảm ơn!

Trả lời:

Căn cứ quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay
1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy, bạn của bạn có nghĩa vụ phải trả nợ gốc và lãi đầy đủ và đúng hạn. Trong thời gian quá hạn, phải trả lãi theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm đó. Tuy nhiên, nếu bên cho vay có các hành vi đe dọa thì có thể căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017 như sau:

Điều 133. Tội đe dọa giết người
1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Đối với 02 người trở lên;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
d) Đối với người dưới 16 tuổi;
đ) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.

Nếu như hành vi đe dọa của chủ nợ không đến mức cấu thành tội phạm thì có thể áp dụng xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định 15/2020/NĐ-CP

>> Xem thêm:  Giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất như thế nào ? Quyền định đoạt tài sản

3. Khởi kiện chủ sở hữu công ty để đòi khoản tiền nợ được không ?

Chào luật sư công ty Luật Minh Khuê, Thưa luật sư tôi có một số vấn đề liên quan đến thủ tục thi hành án. Tuy nhiên đến thời điểm này hơn 2 năm sau khi sự việc xảy ra chúng tôi vẫn chưa nhận được bất cứ thanh toán nào từ phía công ty kia. Do đặc thù đó là công ty TNHH MTV do 1 người là giám đốc đại diện theo pháp luật vừa là chủ sở hữu, vậy công ty tôi có thể khởi kiện cá nhân người này ra tòa để bồi thường thiệt hại cho chúng tôi được không? Vì chúng tôi đã khởi kiện công ty nhưng hoàn toàn không có tác dụng gì vì công ty không có tài sản.
Theo luật về công ty TNHH MTV thì chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty, nếu chúng tôi khởi kiện cá nhân người chủ sở hữu này thì có đúng không? Hoặc nếu không đúng luật thì chúng tôi có thể làm gì để thu hồi khoản nợ trên?
Kính mong nhận được sự hỗ trợ tư vấn từ luật Minh Khuê. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Khởi kiện chủ sở hữu công ty để đòi khoản tiền nợ được không ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, về việc khởi kiện cá nhân người chủ sở hữu

Khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2017 quy định về các trường hợp trả lại đơn khởi kiện như sau:

Điều 192. Trả lại đơn khởi kiện, hậu quả của việc trả lại đơn khởi kiện
1. Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây:
a) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 và Điều 187 của Bộ luật này hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;
b) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó;
c) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;
d) Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 195 của Bộ luật này mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng;
đ) Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;
e) Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 193 của Bộ luật này.
Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện;
g) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện.
2. Khi trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Thẩm phán phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao chụp và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu.
3. Đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại trong các trường hợp sau đây:
a) Người khởi kiện đã có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;
b) Yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu mà theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;
c) Đã có đủ điều kiện khởi kiện;
d) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
4. Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành khoản 1 và khoản 3 Điều này.

Theo trường hợp của công ty bạn, tòa án tuyên công ty đối tác phải thanh toán khoản nợ trên cùng toàn bộ lãi phát sinh do chậm trả, tòa đã ra bản án và đã có quyết định thi hành án. Cho nên nếu bạn khời kiện cá nhân người chủ sở hữu, thì sự việc này đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cho nên tòa án sẽ trả lại đơn của công ty bạn.

Thứ hai, về việc thu hồi khoản nợ

Điều 9 Tự nguyện và cưỡng chế thi hành án

1. Nhà nước khuyến khích đương sự tự nguyện thi hành án.

2. Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật này.

Vì vậy để thu hồi khoản nợ thì bạn đợi công ty đối tác tự nguyện thi hành án hoặc nhờ cơ quan nhà nước có thẩm quyền cưỡng chế thi hành án. Tuy nhiên điều kiện để yêu cầu thi hành án được quy định tại:

Điều 45. Thời hạn tự nguyện thi hành án

1. Thời hạn tự nguyện thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án.

2. Trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay các biện pháp quy định tại Chương IV của Luật này.

Điều 46. Cưỡng chế thi hành án

1. Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật này, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.

2. Không tổ chức cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật và các trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định.

>> Xem thêm:  Trình tự thủ tục khởi kiện đòi lại tài sản thừa kế làm như thế nào ? Quyền quản lý tài sản thừa kế

4. Nhờ người khác ép đòi lại khoản tiền nợ có hợp pháp không ?

Thưa luật sư, Tôi có vay của người khác 70triệu( hai bên điều có giấy tờ) với lãi suất( thoả thuận bằng miệng 1tr/10nghìn/1ngày ) tôi đã đóng được 1 thời gian. Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn nên tôi xin trả 1tháng/1triệu và bên cho vay đã đồng ý tôi đã trả được 8 tháng vì gián đoạn công việc nên ngưng.
Nay tôi xin trả lại như trên nhưng bên cho vay không đồng ý và nhờ người khác tới bắt buộc đòi và bắt tôi phải trả hơn mức thu nhập của tôi vậy nếu tôi nhờ tới pháp luật can thiệp thì tôi có vi phạm pháp luật không. Còn bên cho vay như thế nào?
Xin chân thành cảm ơn Luật sư.

Luật sư tư vấn:

Trong trường hợp của bạn 2 bên đã có hợp đồng vay. bạn không nói rõ về thời hạn vay nên chúng tôi không biết hợp đồng vay của bạn đã đến hạn trả hay chưa. Bạn căn cứ trên hợp đồng vay để xác định nghĩa vụ của mình. Còn đối với bên cho vay với mức lãi suất 10.000 đồng/1 triệu/1 ngày thì đã vi phạm quy định của pháp luật. Bởi theo quy định tại Điều Bộ luật dân sự 2015 quy định:

Điều 468. Lãi suất
1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Hiện nay lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước là 9%/năm=> lãi suất cho vay một tháng không được vượt quá 1.125%/ tháng. Với mức lãi suất 10.000 đồng/triệu/ngày thì mức lãi suất của bạn là: 30%/ tháng. Mức lãi suất như vậy là vi phạm quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự 2009 có quy định:

Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy thì bên cho vay đã có dấu hiệu của hành vi cho vay nặng lãi. Bạn có thể làm đơn tố cáo hành vi cho vay nặng lãi ra cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

>> Xem thêm:  Thủ tục phân chia di sản thừa kế như thế nào ? Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bao lâu ?

5. Cách thức lấy lại khoản nợ khi đến hạn ?

Kính gửi văn phòng luật sư Luật Minh Khuê, Tôi có câu hỏi xin được tư vấn như sau: Tôi có quen một người ( tạm gọi là anh A) ở một phòng tập gym ( người này chủ động làm quen với tôi ) sau một thời gian quen biết tôi mới biết người này khá nổi tiếng ( lọt vào top 4 trong chương trình master chef) Tiếp tục thì anh A có mời tôi đi ăn tôi đã từ chối một lần nhưng lần thứ hai thì anh A nói khó nên tôi đành đi ( mặc dù cảm thấy rất ngại vì chỉ quen trên phòng tập thôi) sau đó thì chúng tôi nói chuyện và thân thiết hơn, anh A có mời tôi đi ăn vài lần nữa và vì ngại nên sau đó tôi lại mời anh A đi uống nước ( anh A trả tiền ăn tôi trả tiền nước ).
Sau đó một thời gian vào ngày 12/6/2016 anh A có nhờ tôi cho người bạn vay 7 triệu đồng để đóng viện cho bố người đó ( vì lúc đó anh A không có mặt ở Hà Nội và chuyển khoản thì không dc !!!!!! L mà bạn thì đang cần gấp ) trước đó anh A cũng đã 1 lần vay tiền và một lần nhờ tôi chuyển khoản giúp để trả gì đó nhưng tôi nói là tôi không có rồi, nhưng lần này lại liên quan đến người nhà nằm viện và đang cần gấp nên tôi với cho vay nhưng yêu cầu 2 ngày sau trả lại luôn tại vì tôi cũng đang cần tiền để làm một số việc) Sau đó hai ngày anh A có rủ tôi đi uống nước và nói là đang kẹt một số việc do vừa nghỉ việc cty, và chưa lấy được tiền nên hẹn tôi mấy hôm nữa sẽ trả. Vài ngày sau tôi có gọi điện hỏi thì không thấy nhấc máy và chỉ nhắn tin lại là đang ốm nằm trong viện và nói đang bảo người nhà chuyển tiền cho tôi rồi bảo tôi chờ. Sau đó tôi không nhắn tin cũng không gọi điện nữa và nghĩ có thể sẽ không đòi được nữa. Lần gần đây nhất là ngày 7/7/2016 tôi có nhắn tin hỏi thì bảo đang đi Thái Lan ngày 28 liên lạc lại.
Vậy xin luật sư vui lòng cho tôi hỏi trong hoàn cảnh và trường hợp tôi đang gặp phải tôi có cơ hội nào để đòi lại tài sản của mình không, tôi phải làm gì tiếp theo . Và nếu trong trường hợp tôi phải nhờ tới pháp luật hay phải nhờ luật sư can thiệp đòi quyền lợi cho mình thì chi phí tôi cần phải chi trả là như thế nào !? ( Tôi thiết nghĩ đây là một số tiền không phải là quá lớn nhưng là công sức lao động vất vả của tôi mới có được không thể để mất một cách ngớ ngẩn và quá dễ dàng như thế, hơn nữa nếu cứ để dễ dàng thế thì có thể sẽ còn tiếp tục có người bị giống như tôi) . Tôi đã qua nhà vài lần vào buổi tối nhưng không có ai ở nhà, tôi cũng không muốn làm lớn chuyện trên Facebook bởi vì có thể người này đang cần điều đó để tạo scandal hay gì đó tương tự. ) ?
Tôi cũng vẫn lưu tin nhắn mà anh A nhắn tin mượn tiền để làm bằng chứng. Xin chân thành cảm ơn!

Cách thức lấy lại khoản nợ khi đến hạn ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn

Như vậy, hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

Theo Điều Bộ luật dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay
1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn nhưng người bạn của bạn đã không trả đúng hạn như thỏa thuận giữa hai bạn.

Theo Điều 357 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

Điều 357. Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền
1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Phân tích cơ sở pháp lý phán quyết của tòa án ?