1. Dân số là gì?

Dân số (population) là tổng số dân sống của một nước. Quy mô dân số bị quy định bởi tỷ suất sinh (tính bằng phần nghìn), tỷ suất chết và sự di cư trong quá khứ và hiện tại.

Trong các nền kinh tế cổ truyền, dân số ổn định mặc dù tỷ lệ sinh cao, tỷ lệ tử cũng cao và không có các luồng di cư lớn. Khi các nước bước vào giai đoạn phát triển mạnh, mức sống tăng nhanh, điều kiện sinh hoạt, y tế tốt hơn, dẫn tới tỷ suất chết giảm và dân số tăng nhanh. Hiện tượng này được gọi là bùng nổ dân số.

Sự bùng nổ dân số có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng và mức sống. Tuy nhiên, chiến lược phát triển kinh tế đúng đắn có thể làm giảm, thậm chí loại trừ tác động tiêu cực này. Khi chiến lược phát triển phù hợp giúp cho đất nước hoàn thành quá trình công nghiệp hóa, cả tỷ suất sinh và tỷ suất chết đều giảm, do đó dân số ổn định trở lại. Thực tế ở các nước tiên tiến như Mỹ, Đức, Nhật đã minh chứng cho nhận định này.

2. Lịch sử chính sách về dân số

Trong các loài vật, giống cái dường như phát triển không ngừng. Nhưng trong loài người thì tư tưởng, tích cách, dục vọng, ước mơ cũng như tính thích đổi thay, ý muốn giữ gìn,sắc đẹp, điều lo sợ về thai nghén, sinh nở, nỗi lo toan về gia đình đông đúc, nặng nề,… đã làm cho việc sinh sôi nòi giống gặp vô vàn cản trở.

2.1. Lịch sử quan điểm lập pháp về điều chỉnh dân số

Những điều quy định về dân số tuỳ thuộc nhiều ở hoàn cảnh. Có những xứ sở mà thiên nhiên đã làm hết mọi việc thì nhà lập pháp không phải làm gì nữa. Khi mà khí hậu tốt lành đã tạo ra dân số vừa phải, thì cần gì đặt ra luật lệ và phát triển dân số nữa. Cũng đôi khi khí hậư tốt hơn đất đai, dân số cứ tăng hoài mà thực phẩm không đủ, hạn đói tiêu diệt con người. Đây là trường hợp ở Trung Hoa. Cha phải đem bán con gái, hoặc quẳng con ra đường vì không nuôi được chúng. Ở xứ Bắc Kỳ cũng vậy, cũng có nguyên nhân và hậu quả như ở Trung Hoa, ta không nên như các du khách Ả Rập đi tìm quan niệm về thuyết luân hồi trong vấn đề dân sôí

Củng vì những lý do mê tín như thế, ở Đài Loan, tôn giáo không cho phép đàn bà sinh con trước 35 tuổi. Nếu họ có mang trước tuổi 35 thì bà thầy tôn giáo sẽ nhồi bụng họ cho truy thai đi.

2.2. Lịch sử biến động về dân số thời kỳ Quân chủ

Châu Âu trước kia, dưới thời Charlemagne (Cựu Hoàng đế La Mã) chỉ là một đế quốc rộng lớn, nhưng chia thành nhiều tiểu vương quốc. Mỗi ông lãnh chúa cai quản một vùng hay một thành phố, không lấy gì làm giàu mạnh, chỉ trông vào dân số trong lãnh địa, nên ông nào cũng tìm cách làm cho xứ sở nhỏ nhoi của mình tăng thêm số dân. Thời ấy thể chế cai trị ở các tiểu vương quốc không giống nhau, lại thiếu những hiểu biết về thương mại, thường xảy ra chiến tranh và tranh chấp liên miên. Mặc dầu thế, dân số ở nhiều vùng Châu Âu còn đông hơn ngày nay.

Tôi không có thì giờ để phân tích triệt để vấn đề này, nhưng cũng xin kể về những đạo Thập tự quân phi thường gồm đủ loại người. Ông Puffendorn (nhà Luật học) nói rằng dưới thời vua Charles IX nước Pháp có tới 20 triệu dân.

Những cuộc sáp nhập các vương quốc nhỏ thường xảy ra, đã dẫn tới sự giảm sút dân số nói chùng. Ngày xưa mỗi làng có một "thủ phủ", nay thì cả nước chỉ có một thủ đô. Ngày xưa mỗi tiểu vương quốc là một .trung tâm thế lực, ngày nay thì tất cả quy vào một trung tâm, đó là trung tậm quốc gia.

Trong hai thế kỷ qua, hàng hải Châu Âu tăng gia rất nhiều. Điều này một mặt đưa thêm người về Châu Âu, mặt khác lại rút bớt người ra khỏi Châu Âu. Nước Hà Lan hàng năm đưa sang Ân Độ rất nhiều thuỷ thủ mà chỉ có độ hai

phần ba trở về; số còn lại bị chết hoặc lập nghiệp ngay tại Ấn Độ. Các nước khác buôn bán vói An Độ cũng có tình trạng như thế.

Không nên coi Châu Âu là một vùng riêng biệt, chỉ có Châu Âu là tiến hành việc hàng hải. Các nước khác Cũng đêh Châu Âu bằng đường hàng hải làm cho Châu Âu tăng thêm dân số bằng nhũng người thuỷ thủ từ các phíạ. Nhựng Châu Âu vẫn tách biệt vói phần còn lại của thê giới bởi tôn giáo khác nhau^\ bởi các vùng biển và sa mạc, nên cũng không bù đắp dân số được bao lăm.

Từ những điều nói trên, phải kết luận rằng Châu Âu ngày nay đang cần có luật khuyến khích sinh sôi nhân khẩu. Cạc chính khách Hy Lạp xưa luôn nói về số dân đông đảo làm nên nước cộng hoà. Các chính khách ngày nay cũng chỉ nói với chúng ta về các biện pháp để tăng gia nước cộng hoà.

Vua Louis XIV ra lệnh trợ cấp cho các gia đình đẻ 10 con và trợ cấp cao hon cho các gia đình có 12 con. Nhưng đây chưa phải là khen thưởng người lắm con. Muốn khuyến khích tinh thần chung củá nhận dân làm sinh sôi nòi giống

Khi một nước dân số giảm do chiến tranh hay dịch bệnh, nạn đói,... đều là có nguyên nhân của nó. Những người còn lại có thể giữ vững tinh thần lao động và kỹ thuật của mình để vượt qua đau khỗ, và còn trở nên giỏi dang hom vì tai biến vừa qua.

Một khi tình trạng giảm sút dân số xảy ra do sai lầm từ bên trong, do nền cai trị xấu thì thật là tai hoạ hầu như không chữa nổi. Ớ đây con người sẽ héo mòn vì cái bệnh vô cảm giác hay là chai dạn với cái xấu. Sinh ra trong suy thoái và đói nghèo, trong bạo lực và định kiến của nền cai trị, họ thấy minh hủ hoại mà không cảm thấy được nguyên nhân cúa sự huỷ hoại này.

Có những nước bị hoang tàn vì chính thể chuyên chế hoặc vì chế độ đặc quyền quá đáng của giói tu hành. Đó là hai tấm gượng lớn cho loài người. Muốn phục hồi những nước như thế không thể trông mong vào việc sinh đẻ thêm trẻ con.

Trong tình cảnh này muốn cứu vãn tình thế thì phải làm nhự người Rome ngày xưa đã từng làm trong một phần lãnh thổ của họ: Chia đất cho tất cả các gia đinh không có đất, Cấp cho họ phưong tiện khẩn hoang và gieo cây, khiến cho ai nấy đều tha thiết với công việc làm ăn. 

3. Các vấn đề về dân số hiện nay

Dân số được coi là yếu tố đầu tiên cấu thành nên một quốc gia và có vai trò trọng yếu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó. Vào thế kỷ XX, các nhà khoa học đã từng quan ngại và cảnh báo về các nguy cơ có thể xảy ra với tình trạng bùng nổ dân số mà thế giới phải đối mặt. Tuy nhiên đến thời điểm hiện nay, thay vì mối lo bùng nổ dân số, mối quan tâm của nhiều quốc gia lại chính là tình trạng suy thoái. Các vấn đề xoay quanh sự suy thoái dân số thường tập trung vào tình trạng dân số già hóa, giảm tỷ lệ sinh, lựa chọn giới tính khi sinh, di cư…

3.1. Già hóa dân số ở các nước phát triển

Già hóa dân số là tình trạng mà sự thay đổi phân bố dân số một nước theo hướng tăng cao tỷ lệ người cao tuổi. Điều này được phản ảnh qua việc tăng độ tuổi bình quân và độ tuổi trung vị của dân số, giảm tỷ lệ trẻ nhỏ, gia tăng tỷ lệ dân số trung niên. Hiện tượng này đã sớm diễn ra ở các nước có trình độ phát triển cao nhất do các chính sách phúc lợi, y tế, an sinh xã hội đảm bảo khiến tuổi thọ được kéo dài, nhưng đến nay lại có xu hướng tăng nhanh hơn ở các nước ít phát triển hoặc đang phát triển. Theo Viện Lão hóa Dân số Oxford, già hóa dân số có sự giảm thiểu đáng kể ở châu Âu và sẽ có những tác động lớn hơn trong tương lai ở các quốc gia châu Á. Báo cáo Triển vọng dân số thế giới 2019 cũng nhấn mạnh: Dân số thế giới đang già đi, với nhóm 65 tuổi trở lên tăng nhanh nhất; dự báo đến năm 2050, 1/6dân số thế giới sẽ trên 65 tuổi (khoảng 16%) và 1/4 dân số sống ở châu Âu và Bắc Mỹ có thể từ 65 tuổi trở lên tức là cứ 4 người sống ở châu Âu và Bắc Mỹ thì có 1 người trên 65 tuổi. Cũng theo báo cáo, năm 2018, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, những người từ 65 tuổi trở lên có số lượng đông hơn trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới. Những người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên dự kiến có thể tăng gấp gần 3 lần, từ 143 triệu người năm 2019 lên 426 triệu người vào năm 2050.

Nhật Bản: Nhật Bản là một trong những nền kinh tế hàng đầu thế giới nhưng từ nhiều năm trở lại đây, suy giảm dân số và già hóa dân số là cụm từ thường xuyên được nhắc khi nói đến quốc gia này và đã trở thành vấn đề đáng quan ngại với Chính phủ. Theo Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản (MIC), số lượng trẻ em ở Nhật Bản đã giảm liên tiếp kể từ năm 1982 và hiện chỉ chiếm 12,1% do tỷ lệ sinh đã xuống thấp đến mức kỷ lục (1,3 trẻ em/phụ nữ sinh). Dân số nước này đã giảm xuống còn gần 124,8 triệu người (tính đến 1/1/2019), mức sụt giảm mạnh nhất kể từ khi việc thống kê dân số bắt đầu. Trong khi đó, số người già từ 65 tuổi tại Nhật Bản năm 2019 đã chiếm tới 28,4% dân số, mức cao nhất từ trước đến nay. Nhật Bản trở thành một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất trên thế giới, với tỷ lệ người già từ 65 tuổi trở lên dự báo chiếm khoảng 30% dân số nước này vào năm 2025 và 35,3% dân số vào năm 2040 (Viện Nghiên cứu Dân số và An sinh Xã hội quốc gia - Nhật Bản).

Một số nươc Đông Âu: Các số liệu về dân số của Liên hợp quốc cho thấy, nhiều nước Đông Âu và một số nước thuộc Liên Xô cũ cũng đang đối mặt với nguy cơ cao vì dân số liên tục giảm. Dựa vào số liệu về tốc độ tăng dân số và tỷ lệ sinh thay thế của cơ sở dữ liệu Triển vọng dân số thế giới, Liên hợp quốc đã ước lượng và dự đoán sự biến động của dân số thế giới giai đoạn 2020-2100. Theo đó, dân số Ucraina đang ở ngưỡng 43,8 triệu dân tính đến ngày 31/12/2020, đồng thời trong năm 2019, số người chết tại Ucraina nhiều hơn số trẻ sinh ra 254,6 nghìn người nên tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên tại quốc gia này đang ở mức âm 0,58% so với năm trước. Cùng với tình trạng di dân ra khỏi đất nước đang có dấu hiệu tăng lên, Ucraina đang trên đà biến mất khi dự báo năm 2050 chỉ còn khoảng 40,7 triệu người và còn 37,6 triệu người vào năm 2100.

3.2. Bùng nổ dân số tại các nước châu Á, châu phi

Trong những thập kỷ gần đây, dân số trên thế giới tăng với tốc độ nhanh. Càng những năm về sau, dân số thế giới càng tăng nhanh, thời gian dân số tăng thêm 1 tỷ người ngày càng rút ngắn. Năm 1998, dân số thế giới đã đạt 6 tỷ người, năm 2011 dân số thế giới đạt 7 tỷ người, hiện nay trung bình mỗi năm dân số thế giới tăng thêm 100 triệu người. Dự kiến trong những năm tới tốc độ đó sẽ còn nhanh hơn nữa và có thể ổn định vào năm 2025, khi dân số thế giới đạt khoảng 10 tỷ người. Các nước đang phát triển phần lớn là những nước nghèo lại chiếm hơn 90% dân số thế giới và trên 95% dân số tăng hằng năm của thế giới. Vì vậy đã dẫn đến sự bùng nổ dân số ở các nước này. Trong đó, những nước nghèo ở châu Phi và khu vực Nam Á lại là những nước có tỷ lệ gia tăng dân số cao, hiện nay vẫn ở mức 2.53% (năm 2016), nhiều nước nghèo như Uganda, Kenya có mức tăng dân số tới trên 3%.
Dân số đông và tăng nhanh ở các nước đang phát triển được coi là nguyên nhân của mọi vấn đề tiêu cực như: kìm hãm sự phát triển kinh tế, cạn kiệt tài nguyên, suy thoái môi trường, giảm sút chất lượng cuộc sống, đói nghèo. Để bảo đảm đời sống cho số dân đông, tăng nhanh, các nước đang phát triển đã tăng cường khai thác tài nguyên, phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Kết quả đã làm cho nguồn tài nguyên cả tự nhiên và nhân văn của các nước này đang bị cạn kiệt, suy thoái. Hiện nay, mỗi năm các nước đang phát triển có khoảng 10-20 triệu ha đất canh tác do khai thác và sử dụng không hợp lý đã bị hoang mạc hóa hoặc thoái hóa. Trước năm 1950, diện tích rừng tự nhiên của các nước đang phát triển chiếm khoảng 50% diện tích đất tự nhiên, đến nay ở nhiều nước không còn đến 30% diện tích đất có rừng. Năm 2000, ở châu Phi chỉ còn khoảng 15%, ở Trung Quốc cũng chỉ có 17% diện tích đất tự nhiên có rừng che phủ. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do khai thác rừng bừa bãi để lấy gỗ, đốt nương làm rẫy. Nhiều nước đang phát triển vẫn tiếp tục khai thác và xuất khẩu khoáng sản thô, các nước OPEC sản xuất và xuất khẩu 40% sản lượng dầu của thế giới. Ở nhiều nước khác, do nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế – xã hội đã đẩy mạnh việc khai thác các loại tài nguyên khoáng sản và xuất khẩu sang các nước phát triển. Giá nguyên, nhiên liệu trên thế giới ngày càng tăng, có nghĩa là các nước đang phát triển càng xuất khẩu nhiều nguyên, nhiên liệu thì thiệt hại về lợi ích kinh tế càng lớn.

4. Chính sách và pháp luật về dân số của một số nước hiện nay

4.1. Tại Trung Quốc

Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới. Những năm 1960, dân số quốc gia này tăng trưởng nhanh chóng, đẩy áp lực dân số lên cao. Đầu những năm 1970, dưới tác động của cuộc Cách mạng Văn hóa, Trung Quốc ban hành chính sách hai con, kêu gọi việc kết hôn và sinh con muộn hơn, khuyến khích khoảng cách giữa các lần sinh là bốn năm. Năm 1978, lãnh đạo Trung Quốc đề ra mục tiêu: trước năm 2000, dân số Trung Quốc không được vượt quá con số 1,2 tỷ. Bởi vậy, năm 1979, chính sách một con được đưa vào áp dụng. Năm 1982, chính sách một con được quy định trong Hiến pháp. Năm 1984, Trung Quốc ban hành chính sách cho phép các cặp vợ chồng ở nông thôn sinh con thứ hai nếu con thứ nhất là con gái, các cặp vợ chồng dân tộc thiểu số được phép sinh từ 3-4 con. Đến năm 1997, cho phép các cặp vợ chồng sống ở thành thị, có thể có hai con nếu cả hai vợ chồng đều là con một. Năm 2000, quy định về việc sinh con thứ hai tiếp tục được nới lỏng. Các điều kiện phổ biến bao gồm: vợ chồng đều là con một, vợ hoặc chồng là người dân tộc thiểu số, vợ chồng trở về từ nước ngoài, các cặp vợ chồng có con đầu bị khuyết tật.

Từ năm 2002, các cặp vợ chồng muốn có nhiều con phải chịu đóng một khoản tiền phạt cố định. Đồng thời, công dân vi phạm còn phải trả thêm một khoản gọi là "phí bảo trì xã hội". Khoản phí này do các tỉnh, khu tự trị và thành phố quy định, căn cứ trên thu nhập bình quân đầu người của cư dân đô thị và nông thôn của địa phương.

Những năm gần đây, kết cấu dân số của Trung Quốc xuất hiện đặc trưng dân số già hoá và ít con. Nguyện vọng sinh của những người trong độ tuổi giảm rõ rệt, sinh con ít, chất lượng cao đã trở thành dòng chính trong quan niệm sinh của xã hội. Bên cạnh đó, xu thế già hoá dân số gia tăng rõ rệt, tỷ trọng người cao tuổi cao hơn mức trung bình của thế giới, dân số trong độ tuổi lao động bắt đầu giảm. Số liệu thống kê cho thấy, dân số Trung Quốc hiện nay hơn 1,3 tỷ người, khoảng 30% ở tuổi trên 50. Đây là những thách thức cho phát triển dân số và an ninh dân số quốc gia.

Sau 14 năm thi hành, Luật Dân số và KHHGĐ nước CHND Trung Hoa sửa đổi (Luật sửa đổi năm 2015) được ban hành ngày 27/12/2015, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2016. Việc sửa đổi luật nhằm mục tiêu thúc đẩy sự phát triển cân bằng dân số quốc gia. Cụ thể là nhằm cân bằng giới tính, kiên trì quốc sách căn bản về KHHGĐ, cải thiện chiến lược về phát triển dân số trong ứng phó với vấn đề dân số già.

Điều 18 của Luật sửa đổi năm 2015 quy định, cho phép mỗi cặp vợ chồng có hai con và có thể nhiều hơn hai con nếu thỏa mãn các quy định của luật và văn bản dưới luật. Luật cũng trao quyền cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành đối với các trường hợp sinh nhiều hơn hai con. Trong trường hợp hai vợ chồng đến từ các địa phương khác nhau, bị điều chỉnh bởi quy định của các địa phương khác nhau, thì họ được lựa chọn việc áp dụng theo quy định nào.

4.2. Tại Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là quốc gia có xấp xỉ 317 triệu dân, là nước đông dân thứ 3 trên thế giới, sau Trung Quốc và Ấn Độ. Quyền sinh sản và sức khỏe sinh sản luôn là một trong những chủ đề tranh luận sôi nổi trong xã hội và cả trong các chương trình nghị sự của Nghị viện Hoa Kỳ.

Pháp luật về nạo phá thai: Từ năm 1973, nạo phá thai được coi là hợp pháp sau khi Tòa án Tối cao ra phán quyết cho phép việc này. Trong vụ Roe kiện Wade (1973), Tòa án Tối cao đã phán quyết rằng một phụ nữ có quyền tuyệt đối trong việc nạo phá thai trong ba tháng đầu tiên mang thai; rằng các bang có thể điều tiết các thủ tục nạo phá thai trong thời kỳ ba tháng mang thai tiếp theo để bảo đảm sức khỏe cho người mẹ; và rằng, trong ba tháng thai nghén cuối cùng, bang có thể quy định hạn chế hoặc cấm việc nạo phá thai, trừ phi tính mạng hoặc sức khỏe của người mẹ bị đe dọa.

Pháp luật về tiếp cận các dịch vụ sinh sản: Trái hẳn với rào cản hạn chế phá thai, một số ít các bang đã thông qua các biện pháp mở rộng tiếp cận các dịch vụ sức khỏe sinh sản. Đáng chú ý nhất, bang California đã ban hành đạo luật mới cấp bang đầu tiên nhằm mở rộng tiếp cận phá thai; năm bang khác thông qua các biện pháp mở rộng tiếp cận giáo dục giới tính toàn diện, tạo điều kiện tiếp cận các biện pháp tránh thai khẩn cấp cho những phụ nữ bị tấn công tình dục.

5. Định hướng về chính sách pháp luật về dân số cho Việt Nam hiện nay

Pháp luật dân số của các quốc gia tôn trọng quyền tự do lựa chọn kết hôn hay không kết hôn, có con hay không có con. Họ đều trải qua tình trạng tỷ suất sinh thấp kéo dài như Đức, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Thái Lan và phải gánh chịu ba hậu quả: lực lượng lao động liên tục giảm làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, tiềm năng sáng tạo của quốc gia và tầm ảnh hưởng trên trường quốc tế và sớm hay muộn việc dân số cũng sẽ giảm; quỹ hưu trí quốc gia trở nên mỏng manh hơn và đối mặt với nguy cơ vỡ quỹ; tỷ suất sinh có khả năng không quay lại được tỷ suất sinh thay thế trong vòng 40 - 80 năm tới.

Hiện nay, với dân số hơn 95 triệu, Việt Nam là quốc gia có dân số đứng thứ 14 trên thế giới và đông dân thứ 8 ở châu Á. Việt Nam đang trải qua những biến đổi nhân khẩu học một cách đáng kể[6]. Số liệu thống kê cho thấy, mức sinh đã liên tục giảm và đạt mức dưới mức sinh thay thế từ năm 2005. Điều này đòi hỏi pháp luật dân số Việt Nam cần phải có cách tiếp cận mới về chính sách dân số, không chỉ dừng lại ở KHHGĐ hoặc các khía cạnh y tế. Việc xây dựng Luật Dân số đang được tiến hành.

Đây là lần đầu tiên Việt Nam xây dựng Luật Dân số. Việc xây dựng luật cần dựa trên cơ sở tôn trọng, bảo vệ quyền sinh sản và quyền tự do lựa chọn về sinh sản. Điều này có nghĩa là mỗi cá nhân và từng cặp vợ chồng có quyền quyết định tự do và có trách nhiệm về số con và họ phải có đủ thông tin và phương tiện để thực hiện quyền này. Điều này hoàn toàn phù hợp với Chương trình Hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển và các Công ước về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia.

Kinh nghiệm của các quốc gia cho thấy, chính sách giảm mức sinh hay pháp luật về kiểm soát dân số trong giai đoạn hiện nay sẽ có tác động ngược lại tới sự phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia. Đã đến lúc pháp luật dân số cần phải chuyển trọng tâm của chính sách dân số từ kiểm soát sinh sang việc lồng ghép các biến số dân số vào quá trình lập kế hoạch phát triển.

Cho dù là các nước phát triển, khi mức sống càng tăng lên thì tỷ suất sinh lại rất thấp, thực chất do các bất lợi đè nặng lên những người kết hôn và có con như nguy cơ mất việc sau khi sinh, chi phí tại nhà trường cao và bất tiện, các khó khăn về nhà ở, lo ngại về việc có con sẽ làm giảm thu nhập... Bởi vậy, những quy định của pháp luật dân số chỉ có thể phát huy tác dụng nếu như có sự đồng bộ với các đạo luật khác, như: Luật Bảo hiểm y tế, Luật Hưu trí, Luật Phúc lợi xã hội,...

Các biện pháp nhằm giữ tỷ suất sinh ở mức tỷ suất sinh thay thế thực ra khác hoàn toàn với các biện pháp làm giảm tỷ suất sinh, áp dụng các biện pháp tránh thai. Hiện nay, việc giảm tỷ suất sinh như áp dụng các biện pháp y tế trong KHHGĐ, các biện pháp xã hội như đảm bảo giữ được công việc sau sinh, các cơ hội nghề nghiệp, nhà ở giá thấp, nhà trẻ, trường học tốt, các biện pháp khuyến khích về thuế thu nhập… đòi hỏi phải được tăng cường.

Về vấn đề nạo phá thai, các quy định của Dự thảo Luật Dân số nước ta đang được xây dựng theo xu thế chung của quốc tế. Tuy nhiên, vẫn cần rà soát kỹ để các quy định thực sự chặt chẽ, hiệu quả và khả thi.

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Khái niệm bùng nổ dân số?

Trả lời:

Bùng nổ dân số là tăng dân số quá nhanh trong 1 thời gian vượt mức 2.1% làm ảnh hưởng đến xã hội

Câu hỏi: Suy giảm dân số là gì?

Trả lời:

Suy giảm dân số ở người là sự giảm số dân do các nguyên nhân như xu hướng nhân khẩu học dài hạn, suy giảm mức sinh thay thế, suy giảm đô thị, do di dân, hoặc do bạo lực, bệnh tật hoặc những thảm họa khác.

Câu hỏi: Già hóa dân số là gì?

Trả lời:

Già hóa dân số hay lão hóa dân số là sự gia tăng độ tuổi trung vị của dân số một vùng do tỷ suất sinh giảm và/hoặc tuổi thọ trung bình tăng. Ở một số nước, tuổi thọ trung bình tăng lên và dân số đang dần bị lão hóa Tình trạng dân số bị lão hóa hiện nay đang đạt đỉnh trong lịch sử nhân loại.