1. Quan hệ hôn nhân chỉ được pháp luật bảo vệ kể từ sau khi hai người đã?

Quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng được pháp luật bảo vệ từ thời điểm nào? Điều 3 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã quy định rằng hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn. Theo quy định này, quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng sẽ được pháp luật thừa nhận và bảo vệ sau khi cả hai đã hoàn tất thủ tục đăng ký kết hôn và có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.

Nói cụ thể, khi nam và nữ tiến hành đăng ký kết hôn, xác nhận là vợ chồng hợp pháp và có nghĩa vụ, trách nhiệm đôi bên với nhau theo quy định pháp luật, quan hệ hôn nhân mới được coi là hợp pháp và có sự bảo vệ từ pháp luật. Điều này là quan trọng để đảm bảo công bằng trong các tình huống bất đồng, tranh cãi, kiện tụng, thậm chí là ly hôn, đặc biệt là đối với quyền lợi và tài sản như nhà cửa, xe cộ, tiền kinh doanh, quyền nuôi con, và các quyền khác phát sinh trong quá trình hôn nhân.

Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều cặp đôi yêu nhau và sống chung mà không thực hiện đăng ký kết hôn. Trong những trường hợp này, pháp luật không bảo vệ quan hệ hôn nhân và có thể gây khó khăn trong việc chứng minh rõ ràng về tài sản và quyền lợi phát sinh. Việc đưa nhau ra tòa kiện cáo, thuê luật sư không chỉ tốn kém mà còn đem lại nhiều thiệt thòi không đáng có cho cả hai bên.

Vì vậy, nếu quyết định sống chung mà không có ràng buộc hôn nhân, việc làm các thỏa thuận trước và xác nhận giấy tờ về tài sản riêng, đặc biệt là những đồ dùng có giá trị lớn như nhà cửa, ô tô, là rất quan trọng để tránh những rắc rối và tranh cãi không cần thiết.

Do đó, Hôn nhân hợp pháp là sự kết hôn giữa nam và nữ khi cả hai tuân thủ các quy định của pháp luật về hôn nhân tại thời điểm cưới và đã đăng ký kết hôn. Trái lại, hôn nhân thực tế là trường hợp nam và nữ chung sống như vợ chồng, đáp ứng các điều kiện hôn nhân theo quy định pháp luật, nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn. Mặc dù vậy, pháp luật vẫn công nhận hôn nhân này là hợp pháp, đồng thời giải quyết quyền, lợi ích, và nghĩa vụ giống như trong hôn nhân đã được đăng ký kết hôn.

2. Hôn nhân thực tế có được pháp luật công nhận hay không?

Hiện nay, hôn nhân thực tế được đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên, hầu hết mọi quan điểm đều đặt ra hai điều kiện chính mà cả nam và nữ cần phải đáp ứng:

- Về hình thức: Cả hai bên phải chung sống như vợ chồng trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 mà không tiến hành đăng ký kết hôn.

- Về nội dung: Cả nam và nữ đều phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình.

Do đó, để được công nhận là hôn nhân thực tế, quan hệ giữa nam và nữ chung sống như vợ chồng phải đáp ứng đồng thời cả hai điều kiện về hình thức và nội dung.

Cũng liên quan đến việc xác nhận tình trạng hôn nhân trong trường hợp nam và nữ chung sống như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 nhưng sau đó không tiếp tục chung sống, nghị định 123/2015/NĐ-CP đã quy định như sau:

Đối với trường hợp nam và nữ chung sống như vợ chồng trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 mà chưa đăng ký kết hôn, được khuyến khích và tạo điều kiện để họ đăng ký kết hôn. Quan hệ hôn nhân sẽ được công nhận kể từ ngày các bên xác lập quan hệ chung sống như vợ chồng. Thủ tục và thẩm quyền đăng ký kết hôn sẽ tuân theo quy định tại Điều 17 và Điều 18 của Luật Hộ tịch.

Đồng thời, theo khoản 1 của Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết.

3. Xác định quan hệ hôn nhân qua các mốc thời gian

Căn cứ theo thông tư liên tịch số 01/2001/TANDTC ngày 03 tháng 01 năm 2001, có thể căn cứ vào 3 mốc thời gian chính để xác định quan hệ hôn nhân như sau:

3.1. Nam nữ sống chung như vợ chồng trước ngày 03/01/1987

Tại thời điểm này, không có yêu cầu bắt buộc phải đăng ký kết hôn, chỉ là khuyến khích việc đăng ký kết hôn. Dù nam và nữ đã đăng ký kết hôn hay chưa trước ngày 03/01/1987, quan hệ vợ chồng của họ vẫn được công nhận theo quy định của pháp luật. Công nhận quan hệ hôn nhân được tính từ ngày họ bắt đầu quan hệ chung sống như vợ chồng, như đã được mô tả ở mục 1. Trong trường hợp họ quyết định đăng ký kết hôn sau khi quan hệ vợ chồng đã được xác lập, quan hệ vợ chồng của họ vẫn được công nhận từ ngày xác lập quan hệ (ngày bắt đầu chung sống như vợ chồng), không phải từ ngày đăng ký kết hôn.

3.2. Nam nữ sống chung như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001

Trong trường hợp nam và nữ sống chung như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 và đáp ứng đủ điều kiện kết hôn, pháp luật quy định một thời hạn để họ đăng ký kết hôn. Thời hạn này là 02 năm (từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003), để họ có quyền hợp pháp hóa mối quan hệ vợ chồng. Cụ thể:

- Từ ngày 01/01/2001 đến 01/01/2003, nếu nam và nữ sống chung như vợ chồng đăng ký kết hôn đúng hạn, thì thời kỳ hôn nhân hợp pháp sẽ được tính từ thời điểm họ bắt đầu quan hệ vợ chồng.

- Sau ngày 01/01/2003, nếu nam và nữ sống chung như vợ chồng mới đăng ký kết hôn, thì quan hệ vợ chồng của họ chỉ được công nhận từ ngày họ đăng ký kết hôn. Nghĩa là, họ đã từ bỏ khả năng công nhận thời kỳ hôn nhân hợp pháp của toàn bộ quá trình sống chung trước đó.

- Nếu sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn, thì quan hệ vợ chồng của họ sẽ không được công nhận.

3.3. Nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng từ 01/01/2001

Đối với trường hợp nam và nữ bắt đầu chung sống như vợ chồng từ ngày 01/01/2001 trở đi mà không thực hiện đăng ký kết hôn, theo quy định của khoản 1 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, họ không được công nhận là vợ chồng hợp pháp bởi pháp luật. Trong trường hợp họ quyết định đăng ký kết hôn sau đó, thời kỳ hôn nhân hợp pháp chỉ được tính từ ngày họ thực hiện đăng ký, không tính từ thời điểm họ bắt đầu chung sống như vợ chồng.

Hiện tại, để quan hệ hôn nhân của nam và nữ được pháp luật công nhận, cần phải đáp ứng các điều kiện về đăng ký kết hôn và thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, bao gồm:

- Điều kiện đăng ký kết hôn: Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên; quyết định tự nguyện của cả nam và nữ; không bị mất năng lực hành vi dân sự; không thuộc trường hợp bị cấm kết hôn, theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Thủ tục đăng ký kết hôn: Cả nam và nữ muốn đăng ký kết hôn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên, chuẩn bị giấy tờ cần thiết và thực hiện thủ tục tại cơ quan có thẩm quyền.

4. Pháp luật Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình như thế nào?

Tại Điều 5 của Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13, có các quy định về Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình như sau:

- Quan hệ hôn nhân và gia đình, khi được xác lập và thực hiện theo quy định của Luật này, đều được tôn trọng và bảo vệ theo quy định của pháp luật.

- Luật cấm các hành vi sau đây:

  + Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

  + Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

  + Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

  + Yêu sách của cải trong kết hôn;

  + Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;

  + Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;

  + Bạo lực gia đình;

  + Lợi dụng quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.

- Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng theo quy định của pháp luật. Cơ quan, tổ chức, và cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn và xử lý người có hành vi vi phạm.

- Trong quá trình giải quyết vụ việc liên quan đến hôn nhân và gia đình, danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư và các quyền riêng tư khác của các bên liên quan đều được tôn trọng và bảo vệ đầy đủ.

Bài viết liên quan: Hôn nhân là gì? Quan hệ hôn nhân là gì? Đặc điểm hôn nhân

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng thông qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!