1. Quan hệ tình cảm với người khác là gì?

Tình cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm ổn định của con người đối với sự vât, hiện tượng có liên quan đến nhu cầu và động cơ của họ. Tình cảm còn được sử dụng phổ biến để biểu thị một cảm giác hoặc một trạng thái tinh thần, thể xác.

Quan hệ tình cảm được hiểu là thái độ rung cảm, cảm xúc của người với người. Mối quan hệ tình cảm được thể hiện thông qua cảm giác về tình thần hoặc những tác động về mặt thể xác giữa họ. 

Như vậy, quan hệ tình cảm có thể được thể hiện qua tâm trí hoặc thể hiện qua hành động cụ thể như: tình yêu thương, sự quan tâm bằng hành động, cử chỉ, lời nói, quan hệ tình dục,...

 

2. Khái niệm về ngoại tình

Hiện nay, pháp luật ở hầu kết các quốc gia đều chỉ công nhận quan hệ hôn nhân một vợ một chồng, duy chỉ có ở một số nước có trình độ dân trí không cao, nặng nề phong tục tập quán lạc hậu mới tồn tại chế độ đa thê.

Pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam công nhận hôn nhân một vợ một chồng là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất theo khoản 1 Điều 2 của Luật Hôn nhân và Gia đình  2014:

"Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng".

Ở Việt Nam, xâm phạm đến chế độ hôn nhân một vợ một chồng còn được quy định là một tội phạm phải chịu các chế tài của pháp luật.

Tuy nhiên, hiện nay pháp luật Việt Nam chưa có một quy định nào cụ thể để đưa ra khái niệm "ngoại tình" mà chỉ có nhóm hành vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng hoặc quy định về hành vi chung sống như vợ chồng với người khác mà biết rõ người đó đang có vợ hoặc chồng,...

Chúng ta có thể hiểu hành vi ngoại tình như sau: Ngoại tình là từ ngữ được dùng để chỉ hành vi một người đang có vợ hoặc chồng có mối quan hệ tình cảm với một người khác không phải là vợ, chồng chính thức của họ. 

Hành vi ngoại tình có thể được nhận diện dưới rất nhiều hành động khác nhau như: có quan hệ về mặt tình cảm với người khác, quan hệ tình dục, chung sống như vợ chồng với người khác,...

Có quan hệ tình cảm với một người đã có gia đình hoặc trong khi mình đã lập gia đình là một trong những hành vi ngoại tình.

 

3. Hành vi chung sống như vợ chồng có bị cấm không?

Theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, việc chung sống nhưu vợ chồng được hiểu là nam nữ tổ chức chung sống với nhau, coi nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Việc sống chung này được thể hiện bằng việc họ có đời sống chung, sinh hoạt chung, tài sản chung, thâm chí là con chung với nhau.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay thì chưa có quy nào nào cấm việc sống chung như vợ chồng. Tuy nhiên, đối với một số trường hợp việc sống chung này xâm phạm đến chế độ hôn nhân một vợ, một chồng hoặc giữa những người có mối quan hệ huyết thống trực hệ thì sẽ được pháp luật nghiêm cấm theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Thứ nhất: Người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chứ có vợ, chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người đang có vợ, có chồng;

Thứ hai: Chung sống như vợ chồng giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa những người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ chồng với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

 

4. Quan hệ tình cảm với người có gia đình có vi phạm pháp luật không?

Như đã phân tích ở trên, quan hệ tình cảm được thể hiện thông qua nhiều hành động, cảm xúc. Pháp luật Việt Nam hiện có nhiều quy định về xử lý đối với hành vi có quan hệ tình cảm với người đã có gia đình. Tuy nhiên, tùy vào mức độ vi phạm sẽ có những chế tài khác nhau với hành vi này. 

Hiện nay, có các hành vi bị xử lý khi xâm phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng là: hành vi đang có vợ hoặc chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có vợ hoặc đang có chồng; hành vi chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có vợ hoăc đang có chồng; hành vi đang có vợ hoặc chồng mà chung sống với người khác.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định về mức xử phạt hành chính từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với các hành vi đã nêu trên.

Theo quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 có quy định về việc truy cứu trách nhiệm hình sự với tội vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Theo đó, người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ đang có vợ, đang có chồng mà hành vi này gây ra hậu quả như: 

- Làm cho mối quan hê của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

- Đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm;

- Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

- Đã có quyết định của Tòa án về việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc sống chung như vợ chồng trái với chế độ một vợ một chồng mà vẫn duy trì mối quan hệ đó.

Theo quy định trên, hành vi ngoại tình đã cấu thành yếu tố về tội phạm theo quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội có thể bị phạt tù đến 3 năm. 

Như vậy, hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng như quan hệ tình cảm, sống chung như vợ chồng,.. với người đang có vợ hoặc chồng là một hành vi trái pháp luật. Tuy nhiên, tùy từng trường hợp với những mức độ gây thiệt hại khác nhau mà pháp luật sẽ có chế tài sử phạt khác nhau với hành vi đó.

Do câu hỏi của bạn chưa cung cấp đủ thông tin cho nên, chưa thể xác định chế tài cho hành vi của bạn. Bạn có thể căn cứ vào hành vi của mình để xác định hành vi đó có đủ yếu tố cấu thành tội phạm vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng hay không. Mong những nội dung tư vấn trên sẽ giải quyết được những thắc mắc của bạn.

Mọi vướng mắc, Hãy gọi: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình