1. Quy định của luật hình sự về tội hiếp dâm

Thưa luật sư, pháp luật hình sự việt nam quy định như thế nào về tội hiếp dâm ạ ? Xin luật sư phân tích và giải đáp giúp. Cảm ơn!

Trả lời:

Tội hiếp dâm được quy định tại điều 111, luật hình sự năm 1999:

Điều 111, luật hình sự năm 1999 quy định tội hiếp dâm:

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

c) Nhiều người hiếp một người;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Đối với nhiều người;

e) Có tính chất loạn luân;

g) Làm nạn nhân có thai;

h) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Phạm tội hiếp dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Giao cấu không thành có thể bị xử lý về tội hiếp dâm từ 01/01/2018 theo Bộ luật Hình sự

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.0159

PHÂN TÍCH VÀ SO SÁNH CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỘI HIẾP DÂM THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÌNH SỰ.

"Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm."

(Điều 71 Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992)

Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân đều có thể bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Trong đó hành vi xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục bị coi là tội phạm và bị xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự. Tùy từng dấu hiệu cụ thể của tội phạm như hành vi, tuổi của người bị hại, tuổi của người thực hiện hành vi,... tội phạm xâm hại tình dục được chia thành các tội danh khác nhau quy định trong Bộ luật Hình sự tại Điều 111 (Tội Hiếp dâm), Điều 112 (Tội hiếp dâm trẻ em), Điều 113 (Tội cưỡng dâm), Điều 114 (Tội cưỡng dâm trẻ em), Điều 115 (Tội giao cấu với trẻ em), Điều 116 (Tội dâm ô với trẻ em).

Thứ nhất, về việc xác định tội phạm:

Trong tình huống bạn nêu, người bạn trai (tạm gọi là A) có hành vi xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục đối với bạn gái (tạm gọi là B). A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu A đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và thuộc một trong các trường hợp sau:

- Trường hợp 1: A phạm tội Hiếp dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 111 Bộ luật Hình sự nếu có các tình tiết sau:

+ B đủ 18 tuổi trở lên,

+ A có hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của B hoặc thủ đoạn khác giao cấu trái ý muốn của B,

+ A đủ 16 tuổi trở lên (Căn cứ theo quy định tại khoản 3 điều 8 Bộ luật Hình sự thì tội Hiếp dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 111 Bộ luật Hình sự là tội nghiêm trọng do mức cao nhất là của khung hình phạt đến bảy năm tù. Theo điều 12 Bộ luật Hình sự, A chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này nếu A đủ 16 tuổi trở lên).

Người phạm tội Hiếp dâm theo khoản 1 Điều 111 Bộ luật Hình sự có thể bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

- Trường hợp 2: A phạm tội Hiếp dâm theo quy định tại khoản 4 Điều 111 Bộ luật Hình sự nếu có các tình tiết sau:

+ B là người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi,

+ A có hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của B hoặc thủ đoạn khác giao cấu trái ý muốn của B,

+ A đủ 16 tuổi trở lên.

Người phạm tội Hiếp dâm theo khoản 4 Điều 111 Bộ luật Hình sự có thể bị phạt tù từ từ năm năm đến mười năm

- Trường hợp 3: A phạm tội Hiếp dâm trẻ em theo quy định tại khoản 1 Điều 112 Bộ luật Hình sự nếu có các tình tiết sau:

+ B là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi,

+ A có hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của B hoặc thủ đoạn khác giao cấu trái ý muốn của B,

+ A đủ 14 tuổi trở lên (Vì căn cứ khoản 3 điều 8 Bộ luật Hình sự thì tội Hiếp dâm trẻ em theo quy định tại khoản 1 Điều 112 Bộ luật Hình sự là tội rất nghiêm trọng do mức cao nhất là của khung hình phạt đến 15 năm tù. Theo điều 12 Bộ luật Hình sự, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này nếu A đủ 14 tuổi trở lên).

Người phạm tội Hiếp dâm trẻ em theo khoản 1 Điều 112 Bộ luật Hình sự có thể bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

- Trường hợp 4: A phạm tội Hiếp dâm trẻ em theo quy định tại khoản 4 Điều 112 Bộ luật Hình sự nếu có các tình tiết sau:

+ B là trẻ em dưới 13 tuổi,

+ A có hành vi giao cấu với B,

+ A đủ 14 tuổi trở lên (Vì căn cứ khoản 3 điều 8 Bộ luật Hình sự thì tội Hiếp dâm trẻ em theo quy định tại khoản 4 Điều 112 Bộ luật Hình sự là tội đặc biệt nghiêm trọng. Theo điều 12 Bộ luật Hình sự, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này nếu A đủ 14 tuổi trở lên).

Người phạm tội Hiếp dâm trẻ em theo khoản 4 Điều 112 Bộ luật Hình sự có thể bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Thứ hai, về việc khởi tố vụ án, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với A:

Khoản 1 Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định đối với vụ án về tội Hiếp dâm được quy định tại khoản 1 Điều 111 của Bộ luật Hình sự thì chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại.

Như vậy, nếu hành vi của A thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội Hiếp dâm theo quy định tại khoản 1 điều 111 Bộ luật Hình sự (trường hợp 1 nêu trên) thì cơ quan có thẩm quyền chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự nếu có yêu cầu của B.

Đối với trường hợp hành vi của A thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội phạm khác thì A sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà không cần phải có yêu cầu của người bị hại.

Nếu cơ quan chức năng chưa phát hiện được hành vi phạm tội của A để xử lý thì cá nhân, tổ chức biết về hành vi trên đều có thể tố giác tội phạm với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Trong trường hợp này, bạn có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan, tổ chức khác theo quy định tại điều 101 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác. Sau khi đã tiếp nhận tin báo, tố giác, cơ quan có thẩm quyền phải giải quyết theo quy định tại điều 103 Bộ luật Tố tụng hình sự:

"1. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến. Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

2. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng.

3. Kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và thông báo cho cơ quan, tổ chức đã báo tin hoặc người đã tố giác tội phạm biết.

Cơ quan điều tra phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người đã tố giác tội phạm.

4. Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố."

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Luật sư tranh tụng các vụ án hình sự

>> Xem thêm:  Xử phạt hành vi xúc phạm danh dự người khác ? Thủ tục khởi kiện việc xúc phạm úy tín

2. Tư vấn về tội hiếp dâm và xúc phạm danh dự nhân phẩm ?

Tôi năm nay 27 tuổi hiện là giáo viên. Tôi có câu hỏi cần Luật sư tư vấn giúp ạ! Năm 2013 tôi quen Q trong trường hợp khách hàng và chủ nhà, khoảng tháng 8 năm 2014 tôi có cho Q số điện thoại của mình. Tôi và Q thi thoảng có đi uống nước và tâm sự với nhau. Đến tháng 12 âm lịch tôi có mâu thuẫn với người tên T, T thường cho bạn nhắn tin đe dọa nên tôi sợ hay tâm sự với Q.
Một lần buổi tối tôi đi xe máy về nhà ở Thái Nguyên thì bị 2 vợ chồng T theo dõi, tôi rất sợ nên gọi điện cho Q, sau đó Q bắt buýt đi đến chỗ tôi ngồi đợi và đi ăn cơm. Vì tôi sợ nên Q đề nghị thuê chung phòng nhà nghỉ với tôi và hứa ko làm gì, nhưng khi vào trong phòng Q đã cố ép tôi phải quan hệ tình dục với Q. Sau lần đó, Q hay sang nhà trọ của tôi ép tôi quan hệ tình dục và nói (nửa đùa nửa thật) sẽ cưới nếu có em bé nếu không sẽ cho người đuổi tôi ra khỏi đất Đông Anh Hà Nội. Vì xấu hổ và muốn yên ổn nên tôi giữ im lặng, người ngoài thì tưởng chúng tôi yêu nhau. Đến khi tôi có thai thì Q rũ bỏ trách nhiệm, tôi đề cập đến chuyện cưới xin thì Q gạt đi và bắt tôi phải phá thai.
Tôi không phá thai thì Q hay chửi và xúc phạm tôi nhưng có lúc lại hứa hẹn sinh xong sẽ cưới vì chú ruột vừa mất. Có lần tôi ra chỗ Q làm để nói chuyện cái thai lúc đó được 8 tháng thì Q đánh tôi xước xát tay chân, vì muốn nghĩ cho con nên tôi vẫn im lặng. Khi tôi sinh con gái được 17 ngày thì con tôi nằm viện, Q có thi thoảng đến chăm con nhưng sau đó rũ bỏ trách nhiệm vì Q nói con gái không phải con của Q, tôi đề nghị Q xét nghiệm ADN thì Q từ chối. Thời gian đó, Q có quen với 1 cô gái khác và đã nói chuyện cưới xin, tôi có sang nhà Q nói chuyện đứa bé với ông bà nhưng bố mẹ Q đuổi tôi và chửi tôi là cave, nhà cô gái kia biết chuyện cũng đã hủy hôn. Gia đình nhà Q đi nói khắp nơi tôi là cave, là phò, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, đạo đức của tôi và làm ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống của tôi khiến tôi cảm thấy xấu hổ ko dám nhìn mặt ai nữa.
Vậy tôi hỏi Luật sư liệu tôi có quyền khởi kiện Q tội hiếp dâm và xúc phạm danh dự nhân phẩm của tôi không ạ?
Tôi rất mong Luật sư hồi âm sớm cho tôi, tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư vấn pháp luật hình sự trực tuyến: 1900.0159

Trả lời:

Dựa theo thông tin bạn cung cấp, chúng tôi nhận thấy chưa đủ cơ sở để tố cáo Q tội hiếp dâm tuy nhiên bạn đủ cơ sở để tố cáo Q tội cưỡng dâm.

Tội cưỡng dâm được quy định tại Điều 113 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 như sau:

" Điều 113. Tội cưỡng dâm

1. Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Nhiều người cưỡng dâm một người;

b) Cưỡng dâm nhiều lần;

c) Cưỡng dâm nhiều người;

d) Có tính chất loạn luân;

đ) Làm nạn nhân có thai;

e) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười tám năm:

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Cưỡng dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Theo điều luật thì chủ thể của tội cưỡng dâm là "Người nào". Do đó chủ thể là bất cứ ai thực hiện hành vi có đủ cấu thành tội phạm này đều trở thành chủ thể của tội phạm. Đó là các điều kiện:

- Độ tuổi: đủ 14 tuổi trở lên.

- Năng lực trách nhiệm hình sự: Có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự (Có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình).

- Hành vi: dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu

- Lỗi: cố ý.

Dựa vào những dấu hiệu này, có thể thấy hành vi dọa sẽ cho người đuổi bạn ra khỏi đất Đông Anh Hà Nội, khiến bạn phải xấu hổ nhục nhã lệ thuộc vào mình để ép bạn quan hệ tình dục với mình của Q có thể cấu thành tội cưỡng dâm. Trường hợp của bạn thuộc trường hợp quy định tại điểm đ Điều 133 Bộ luật hình sự : "làm nạn nhân có thai".

Khoản 1 Điều 121 quy định về tội làm nhục người khác như sau: "Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm."

* Đối với người phạm tội

Người phạm tội phải là người có hành vi (hành động) được thể hiện bằng lời nói hoặc hành động xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm danh dự của người khác như: lăng mạ, chửi rủa thậm tệ, lột quần áo giữa đám đông người, thoả mãn thú vui của xác thịt v.v...nhưng chưa tới mức cấu thành tội phạm như: Hiếp dâm, cưỡng dâm và không thuộc trường hợp dâm ô với trẻ em, mà chỉ xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người khác.

Để làm nhục người khác, người phạm tội có thể có những hành vi vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực như: bắt trói, tra khảo, vật lộn, đấm đá hoặc dùng phương tiện nguy hiểm khống chế đe doạ buộc người bị hại phải làm theo ý muốn của mình, nhưng tất cả các hành vi, thủ đoạn đó chỉ nhằm mục đích là làm nhục chứ không nhằm mục đích khác.

* Về phía người bị hại

Là người bị xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự. Việc xác định như thế nào là nhân phẩm, danh dự bị xâm phạm nghiêm trọng cũng là một vấn đề khá phức tạp, bởi vì cùng bị xâm phạm như nhau, nhưng có người bị thấy nhục hoặc rất nhục, nhưng có người lại thấy bình thường, không thấy bị nhục. Những chuẩn mực này, nếu chỉ căn cứ vào ý thức chủ quan của người phạm tội hay người bị hại thì cũng chưa thể xác định một cách chính xác được mà phải kết hợp với các yếu tố như: trình độ nhận thức, mối quan hệ gia đình và xã hội, địa vị xã hội, quá trình hoạt động của bản thân người bị hại, phong tục tập quán, truyền thống gia đình v.v... Dư luận xã hội trong trường hợp này cũng có ý nghĩa quan trọng để xác định nhân phẩm, danh dự của người bị hại bị xâm phạm tới mức nào. Sự đánh giá của xã hội trong trường hợp này có ý nghĩa rất lớn để xác định hành vi phạm tội của người có hành vi làm nhục.

Khoản 1 Điều 122 quy định về tội vu khống như sau: "Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm."

Người phạm tội phải có một trong các hành vi sau:

- Bịa đạt những điều không có thực

Bịa đặt là tự nghĩ ra một điều gì đó mà không có đối với người khác như: không quan hệ bất chính lại tố cáo là quan hệ bất chính, không nhận hối lộ lại tố cáo là nhận hối lộ...

- Loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt

Tuy người phạm tội không bịa đặt, nhưng lại loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt. Việc loan truyền này có thể bằng nhiều hình thức khác nhau như: sáo chép làm nhiều bản gửi đi nhiều nơi, kể lại cho người khác nghe, đăng tin, bài trên các phương tiện thông tin đại chúng... Người có hành vi loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt có thể biết điều đó do ai bịa đặt hoặc cũng có thể chỉ biết đó là bịa đặt còn ai bịa đặt thì không biết.

Người loan truyền phải biết rõ điều mình loan truyền là không có thực nếu họ còn bán tin bán nghi thì cũng chưa cấu thành tội vu khống.

- Bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền

Đây là trường hợp tố cáo trước cơ quan có thẩm quyền về một tội phạm xảy ra và người thực hiện tội phạm mà hoàn toàn không có thực.

Tất cả những hành vi bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt hoặc tố cáo sai người phạm tội với cơ quan có thẩm quyền đều nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền lợi của người bị hại.

Căn cứ vào quy định trên có thể thấy gia đình Q có dấu hiệu của tội làm nhục người khác và tội vu khống.

Trong trường hợp này bạn có thể gửi đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đến cơ quan có thẩm quyền như: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.

Yêu cầu khởi tố của bạn có thể được thể hiện dưới hình thức đơn hoặc trình bày trực tiếp. Đơn yêu cầu khởi tố có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu. Trường hợp yêu cầu khởi tố được trình bày trực tiếp thì cơ quan điều tra, viện kiểm sát lập biên bản ghi rõ yêu cầu khởi tố có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu. Biên bản do viện kiểm sát lập được chuyển ngay cho cơ quan điều tra để xem xét việc khởi tố vụ án hình sự và đưa vào hồ sơ vụ án.

Mọi vướng mắc bác vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Làm đơn nặc danh vu khống, bôi nhọ danh dự người khác bị xử lý như thế nào ?

3. Mức án xử phạt về tội hiếp dâm như thế nào ?

Kính chào Công ty Luật Minh Khuê!. Tôi có 1 sự việc kính mong quý công ty giải đáp giúp. Để có thể nhận được câu trả lời tường tận nhất của quý công ty thì tôi xin kể lại toàn bộ sự việc để quý công ty nắm bắt được nội dung ( sự việc xoay quanh 2 nhân vật chính, tôi tạm gọi nhân vật bị hại là Nữ, nhân vật có hành vi phạm tội là Nam). Sự việc diễn ra trong 1 buổi sự kiện tại quận Hà Đông – tp Hà Nội Khi Nam đang ăn cơm cùng 1 số người tại tầng 2 của trung tâm nơi diễn ra sự kiện, khoảng 12h trưa thì chủ của sự kiện (một người đàn ông) có đưa vào phòng ăn 1 cô gái và giới thiệu với mọi người rằng: đây là cô Nữ, sinh viên khoa báo chí đến ghi hình và viết bài về buổi sự kiện hôm nay. Sau đó Nữ ngồi dùng bữa cùng mọi người. Trong khi dùng cơm mọi người làm quen và mời rượu nhau, lúc đó Nữ có giới thiệu sơ qua về bản thân với mọi người. Nam và Nữ cũng mời rượu nhau đồng thời trao đổi số điện thoại để liên lạc về sau. Ăn cơm xong Nam xuống tầng 1 uống nước, lúc này Nữ cũng đi xuống và đang nói chuyện điện thoại với ai đó, Nam nghe được nội dung cuối cùng là “vâng, em sẽ gửi về ngay”.
Sau khi Nữ kết thúc cuộc điện thoại thì Nam có hỏi Nữ là “Em đi đâu đấy?” Nữ trả lời “em cần máy tính để gửi về tòa soạn cho tổng biên tập. Nam nói “anh có máy tính trên xe ô tô, để anh cho em mượn” Nữ nói “vâng, để em lên tầng chụp thêm vài tấm ảnh làm tư liệu” Khi Nữ đi lên tầng thì Nam ra nơi đỗ xe ô tô ngồi đợi. Khoảng 10 phút sau không thấy Nữ ra thì Nam gọi điện cho Nữ hỏi “ em có xuống không để anh đợi”. Nữ trả lời “anh đợi em một lát thôi” Đợi thêm khoảng 5 phút thì Nam gọi điện thoại cho Nữ tiếp và hỏi “em có xuống không”. Nữ trả lời “ em xuống ngay đây ạ” Khoảng 2 phút sau Nữ gọi điện thoại cho Nam nói rằng “em đang xuống rồi”. Khi Nữ ra nơi đỗ xe Nam đang chờ thì Nam mở cửa xe ô tô và Nữ lên xe. Lúc đó Nam quan sát túi máy tính và nhớ ra là mình đã để máy tính ở nhà khi cho quần áo vào cặp máy tính. Nam nói với Nữ là “anh quên máy tính ở nhà rồi”. Nữ nói “vậy anh chở em đến quán internet để em gửi bài về” Nam đồng ý và chở Nữ đi. Đi được một lúc không tìm thấy quán internet nào thì Nam nói với Nữ “anh không biết đường ở đây, em biết chỗ nào có quán internet thì chỉ để anh đưa đến” Nữ nói “em cũng không phải người ở đây nên không biết đường, lúc đến em đi bằng taxi” Lúc đó Nam có gọi điện thoại cho 1 người bạn gái ở Hoài Đức rủ đến trung tâm cùng dự sự kiện, bạn gái kia đồng ý và Nam nói với Nữ “anh với em đi đón người bạn cùng quê với anh sang trung tâm chơi rồi mình tìm quán internet sau nhé”. Nữ đồng ý và Nam lại nói “ anh không biết đường đi Hoài Đức, em tìm bản đồ giúp anh với”. Và Nữ lấy điện thoại của mình để tìm đường, sau khi tìm đường thì Nam và Nữ rẽ vào đường sienco5 thuộc huyện Thanh Oai – tp Hà Nội. Đi được khoảng 5 – 6 km thì Nữ nói “em không đi với anh được đâu, anh cho em xuống để em về gửi bài đã” Do xe đang đi nhanh nên Nam không dừng lại thì Nữ quyết liệt đòi xuống xe và Nam dừng xe bên lề đường. Sau khi Nam dừng xe lại thì Nữ có hỏi Nam “anh không mang theo máy tính thật à” Nam trả lời “anh không chắc lắm, em thử ra phía sau xe kiểm tra lại cho anh với” Nữ ra phía sau xe kiểm tra không thấy thì định mở của xe, Nam thấy vậy sợ Nữ xuống xe rồi về trung tâm mọi người lại hiểu lầm nên đã theo xuống phía sau xe cản Nữ lại bằng cách đẩy Nữ ngồi xuống ghế và nói “em đừng xuống như vậy, lát anh sẽ đưa em về”. Do sợ hãi vì hành động bất ngờ của Nam nên Nữ đã phản ứng bằng cách nói rất to như hét lên khiến Nam hoảng loạn và đã dùng tay phải bịt miệng Nữ, tay trái vòng qua vai nắm lấy cổ Nữ. Lúc đó Nam nói “em đừng hét lên như vậy được không, nếu em đồng ý thì giơ tay lên để anh bỏ ra”. Nữ đồng ý giơ tay và Nam đã bỏ ra. Trong lúc Nam bịt miệng nữ, có lẽ do sợ nên Nữ đã cào vào má và tay phải của Nam. Rồi nam ngồi ghế ngoài ngay cạnh nữ ở hàng ghế thứ 3.
Hai người ngồi nói chuyện khoảng 1 tiếng đồng hồ (rất nhiều chuyện không cụ thể nên Nam không nhớ rõ nội dung) Sau đó Nữ cảm thấy Nam có ý định không đứng đắn với mình nên đã nói “ có phải anh có ý định quan hệ với em không? Nếu có thì anh bỏ đi, em không đồng ý đâu, em chưa có người yêu, anh để em về em còn gửi bài”. Nam vừa cười vừa nói “Nếu anh vẫn muốn có ý định đó thì sao?” Nữ nói “thì em cũng chỉ biết xin anh cho em về em gửi bài chứ biết làm sao nữa” Sau một hồi đôi co như vậy thì nữ hỏi “tóm lại anh vẫn muốn quan hệ tình dục với em phải không?” Nam trả lời “đúng rồi thì sao, em làm được không?” Nữ trả lời “ không, em chưa có người yêu” Nam hỏi Nữ “em quan hệ bao giờ chưa” Nữ trả lời “chưa” Nam hỏi “em xem phim đó chưa” Nữ trả lời “chưa” Nam nói “thế em tải về mà xem” Nữ chưa hiểu ý nên Nam nói “ không nhất thiết phải quan hệ bình thường, có 2 cách: quan hệ vào âm hộ hoặc quan hệ bằng miệng, em chọn cách nào” Nữ nói anh là cái gì mà bảo em phải chọn, em không chọn cách nào, em không làm được. Sau một lúc thì Nữ đồng ý và bảo là “trên xe có mỗi hai người em không đồng ý thì biết làm thế nào” và bảo Nam là chỉ quan hệ bằng miệng thôi, xong là về đúng không?” Nam trả lời “đúng rồi xong là về luôn” Sau đó Nam tụt quần xuống đến đầu gối để lộ dương vật cho Nữ nhìn thấy. Và Nam hỏi Nữ “nhỡ sau này em kiện anh thì sao?” Nữ trả lời “em không kiện cáo gì hết, xong là xong, nhanh để còn về” Nam nói “anh không tin được, nếu em đã đồng ý quan hệ bằng miệng tự nguyện thì cho anh ghi hình lại để làm bẳng chứng lỡ sau này em kiện anh thì anh còn chứng minh được là em tự nguyện chứ anh không ép em” Nữ nói em thề không kiện cáo nên không cần ghi hình. Và sau đó đồng ý cho Nam ghi hình. Lúc này Nam nói, nếu cứ mặc quần áo thế này thì ai biết được là em với anh đang quan hệ, em cởi quần áo ra cho anh quay nhé” Nữ lúc đầu không đồng ý nhưng sau Nam đã thuyết phục được Nữ, và Nữ đã tự cởi quần áo để cho Nam ghi hình lại. Sau khi nữ cởi quần áo ra thì Nam cầm điện thoại của mình để ghi hình lại, được khoảng 2 phút thì Nam không quay nữa và cất điện thoại đi. Sau đó Nam để tay trái lên vai Nữ, tay phải để ở đầu Nữ kéo Nữ vào sát mình để Nữ thực hiện quan hệ bằng miệng cho Nam. Sau đó Nữ được nam hướng dẫn ngậm dương vật của Nam, lúc đó Nam cầm điện thoại và quay clip thì Nữ không đồng ý nên Nam không quay nữa và Nữ ngậm khoảng 10 phút. Thấy Nữ ngậm như vậy không có tác dụng nên Nam nói “em cứ ngậm thế này thì không có tác dụng gì đâu, em không đồng ý quan hệ bằng âm hộ với anh mà cũng không biết làm bằng miệng hay là em để cho đưa vào hậu môn của em thì chỉ 1 – 2 phút là xong thôi. Nữ không đồng ý và bảo để em làm tiếp, và Nữ lại tiếp tục ngậm dương vật của Nam khoảng 5 phút thì Nam lại bảo“ em làm thế này mãi cũng không được đâu. Em nằm ra anh cho vào hậu môn cho nhanh. Nữ không nói gì và nằm nghiêng ra ghế xe để Nam thực hiện đưa dương vật vào hậu môn của mình. Do khoảng cách giữa 2 ghế xa và do đã uống rượu nên dương vật Nam không cương cứng được và không đưa được vào hậu môn của Nữ. Lúc này Nam bảo, em để chân như vậy anh không nhìn thấy gì mà cho vào đâu. Em dạng chân ra một chút để anh nhìn thấy, và Nam cầm chân Nữ hướng dẫn Nữ dạng chân ra nhưng Nam vẫn không cho vào được. Sau đó Nam nói, em cho anh sờ vào âm hộ để kích thích nhé và đưa tay xuống vùng âm hộ của Nữ, lúc này nữ hét to “á” và Nam bảo “anh không làm nữa đâu, em mặc quần áo vào rồi anh đưa em về. Sau đó Nam kéo quần mình lên rồi trở về ghế lái đợi Nữ. Nữ mặc quần áo xong thì cũng trở về ghế phụ ngồi gần Nam. Trên đường về Nữ nói với Nam “anh đưa em về bến xe bus để em bắt xe về quê là được rồi, em không về trung tâm nữa. em không kiện cáo gì anh đâu, nên anh cũng đừng dùng clip để bôi nhọ em.” Nam nói “anh quay thế thôi nhưng không giữ đâu, vì anh sợ về nhà vợ anh biết”. và Nam đã xóa clip trước mặt Nữ. Đi thêm một đoạn đường thì Nam thấy xe hết xăng và trước mặt có cây xăng nên bảo Nữ “xe hết xăng anh vào đổ xăng rồi đưa em về nhé” Nữ nói đây là Xala, nhà chị em ở gần đây rồi, anh đổ xăng rồi về đi, em tự về nhà chị trước.” Nam mở cửa cho Nữ xuống xe và Nam đổ xăng rồi về trung tâm. Sau đó Nam có gọi điện thoại cho Nữ nhưng Nữ không nghe máy. Đến 22h Nam đến cơ quan công an quận Hà Đông đầu thú khai nhận thành khẩn toàn bộ sự việc. Tại cơ quan công an, cán bộ điều tra cho Nam viết tường trình và các giấy tờ đầu thú, tạm giữ điện thoại di động của Nam và còng tay Nam vào thành giường để Nam ngủ. Sáng hôm sau cán bộ yêu cầu Nam cho gọi lái xe đưa xe về công an quận để xác minh. Chiều cùng ngày công an quận Hà Đông di dời Nam và Nữ về công an huyện Thanh Oai để bàn giao. Tại đây, công an huyện Thanh Oai lập biên bản tạm giữ xe ô tô mà Nam đã lái để xác minh. Sau đó nam bị tạm giữ 3 lệnh (9 ngày) tại trại tạm giam công an huyện Thanh Oai. Đến ngày thứ 9 bệnh sỏi thận của Nam tái phát nên cán bộ trại giam đưa Nam đến bệnh viện đa khoa huyện để khám, siêu âm và chụp x-quang. Tại đây bác sĩ kết luận Nam có sỏi thận trái rơi xuống đường tiết niệu yêu cầu mổ ngay. Nhưng sau khi tiêm giảm đau thì Nam đã không còn nguy cấp nên được đưa trở lại trại tạm giam. Sau đó gia đình làm đơn bảo lãnh cho Nam tại ngoại để chữa bệnh. Do Nam chưa có tiền án tiền sự nên đã được chuyển từ lệnh tạm giam sang lệnh cấm rời khỏi nơi cư trú.

Vậy kính mong quý công ty giải đáp giúp tôi:

1. Nam vi phạm tội gì, điều khoản nào và mức án ra sao?

2. Phương tiện (ô tô) mà Nam lái sẽ xử lý thế nào, bao giờ thì trả lại?

3. Điện thoại đi động và sim số của Nam xử lý thế nào, bao giờ thì trả lại?

4. Theo cáo trạng của cơ quan điều tra và viện kiểm sát nhân dân thì Nam phạm tội hiếp dâm là đúng hay sai?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.0159

Trả lời:

1. Nam vi phạm tội gì, điều khoản nào và mức án ra sao ?

Điều 111 Bộ Luật Hình sự 1999; Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quốc hội quy định về tội hiếp dâm và mức xử phạt như sau:

"Điều 111. Tội hiếp dâm

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

c) Nhiều người hiếp một người;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Đối với nhiều người;

e) Có tính chất loạn luân;

g) Làm nạn nhân có thai;

h) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Phạm tội hiếp dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 111 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 thì để cấu thành tội hiếp dâm thì người phạm tội phải có hành vi giao cấu với nạn nhân mà không đòi hỏi hành vi giao cấu về mặt sinh lý. Vậy hành vi giao cấu được hiểu là:

"Một người chủ động dùng bộ phận sinh dục của mình tiếp xúc (tác động) với các bộ phân khác trên cơ thể của đối phương, không phân biệt là đồng giới hay khác giới".

Như vậy, nếu một người chủ động sử dụng bộ phận sinh dục của mình để “quan hệ” với người khác (không nhất thiết phải là hai bộ phận sinh dục với nhau) thì là giao cấu.

Vì Nam đã chủ động dùng bộ phận sinh dục của mình tiếp xúc với các bộ phận khác trên cơ thể Nữ nên có thể khẳng định rằng Nam đã có hành vi giao cấu với Nữ.

Căn cứ theo các quy định Điều 111 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 thì tội hiếp dâm được hiểu là người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ. Như vậy, Nam đã có hành vi lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của Nữ để giao cấu với Nữ, trái với ý muốn của Nữ, do đó Nam đã phạm tội hiếp dâm và có thể bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phương tiện (ô tô) do Nam lái và điện thoại, sim số của Nam sẽ xử lý thế nào, bao giờ thì trả lại ?

Theo như thông tin bạn cung cấp thì ô tô và máy điện thoại của Nam được xem là vật chứng trong vụ án hiếp dâm này, Điều 56 Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11 của Quốc hội quy định về vật chứng như sau:

"Điều 56. Vật chứng.

Vật chứng là những vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và những vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội."

Theo quy định tại Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì ô tô và điện thoại, sim số của Nam sẽ được cơ quan có thẩm quyền thu lại và bảo quản theo quy định:

"Điều 57. Thu thập và bảo quản vật chứng.

1- Vật chứng cần được thu thập kịp thời, đầy đủ, được mô tả đúng thực trạng vào biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án.
Trong trường hợp vật chứng không thể đưa vào hồ sơ vụ án thì phải chụp ảnh để đưa vào hồ sơ và vật chứng phải được niêm phong, bảo quản.

2- Vật chứng phải được bảo quản nguyên vẹn, không để mất mát, lẵn lộn và hư hỏng. Hồ sơ vụ án ở cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm bảo quản vật chứng. Vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ phải được giám định ngay sau khi thu thập và phải chuyển ngay để bảo quản tại ngân hàng hoặc tại các cơ quan chuyên trách khác.

3- Người có trách nhiệm bảo quản vật chứng mà để mất mát, hư hỏng thì phải bồi thường; trong trường hợp huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vật chứng nhằm làm sai lệch hồ sơ vụ án thì phải chịu trách nhiệm theo Điều 236 Bộ luật hình sự."

Ô tô và điện thoại, sim số đó sẽ được xử lý theo quy định tại Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 như sau:

"Điều 58. Xử lý vật chứng.

1- Việc xử lý vật chứng do Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Chánh án, Phó chánh án Toà án cùng cấp hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử. Việc thi hành các quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.

2- Vật chứng được xử lý như sau:

a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành thì bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước;

b) Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu xã hội chủ nghĩa hoặc thuộc sở hữu của người khác bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì sung quỹ Nhà nước;

c) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ Nhà nước;

d) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu huỷ.

3- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền quyết định trả lại những vật chứng quy định tại điểm b, khoản 2 Điều này cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án."

Như vậy, theo quy định tại Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì ô tô và điện thoại, sim số của Nam là công cụ, phương tiện phạm tội nên sẽ bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước và do đó sẽ không được trả lại.

4. Theo cáo trạng của cơ quan điều tra và viện kiểm sát nhân dân thì Nam phạm tội hiếp dâm là đúng hay sai?

Như vậy theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì cáo trạng của cơ quan điều tra và viện kiểm sát nhân dân xác định Nam phạm tội hiếp dâm là đúng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Quy định mới về các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của người khác ?

4. Tư vấn về tội hiếp dâm trẻ em

Thưa Công ty Luật Minh Khuê, em có câu hỏi muốn được giải đáp: Ở quê em có một vụ 2 đứa trẻ quan hệ tình dục nhiều lần bị nhà bé gái bắt gặp báo công an. Bé gái 14 tuổi bé trai 17 tuổi . Bắt lên công an xã thả về nói là không có luật nào để xử lý vụ việc vì cả 2 tự nguyện và đứa trẻ trai chưa đủ tuổi theo pháp luật. Luật sư cho em hỏi vụ này xử lý thế nào ?
Em xin chân thành cảm ơn!

Tư vấn về tội hiếp dâm trẻ em

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.0159

Trả lời:

Điều 12 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Trường hợp này, bé trai đã đủ 17 tuổi chưa đủ tuổi đã thành niện ( 18 tuổi trở nên) nhưng đủ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nếu phạm tội. Hai đứa trẻ quan hệ nhiều lần nhưn trên cơ sở tự nguyện, cho nên nếu phạm tội thì sẽ là tội giao cấu với trẻ em, được quy định tại Bộ luật hình sự 1999 như sau:

Điều 115. Tội giao cấu với trẻ em

1. Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Có tính chất loạn luân;

d) Làm nạn nhân có thai;

đ) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.

Tại khoản 1 Điều 115 quy định về người đã thành niên giao cấu với trẻ em thì được coi là phạm tội, nhưng bé trai chưa đủ tuổi thành niên, cho nên không phạm tội giao cấu trẻ em.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Bị vu khống về tội hiếp dâm và bị ép cung giải quyết thế nào ?

5. Giao cấu không thành có thể bị xử lý về tội hiếp dâm ?

Thưa luật sư, Bạn tôi dùng vũ lực nhằm ép chị hàng xóm phải quan hệ tình dục, nhưng chưa kịp thực hiện giao cấu thì nạn nhân thoát được. Sau đó, nạn nhân đã soạn đơn tố cáo lên cơ quan Công an yêu cầu xử lý hình sự đối với bạn tôi. Vậy xin hỏi Luật sư: Bạn tôi có bị xử lý về tội hiếp dâm?

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Bộ luật hình sự 1999 (văn bản mới thay thế: Bộ luật hình sự 2015), tội hiếp dâm được quy định tại Điều 111 chỉ có khái niệm giao cấu.

Điều 111. Tội hiếp dâm

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

c) Nhiều người hiếp một người;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Đối với nhiều người;

e) Có tính chất loạn luân;

g) Làm nạn nhân có thai;

h) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Phạm tội hiếp dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Theo Điều 141 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định:

Điều 141. Tội hiếp dâm

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

c) Nhiều người hiếp một người;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Có tính chất loạn luân;

g) Làm nạn nhân có thai;

h) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

i) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

k) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Tuy nhiên, tại Điều 141 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 (có hiệu lực thi hành từ 1/1/2018), hành vi hiếp dâm có thêm khái niệm "quan hệ tình dục khác" (tức có thể bằng miệng, hậu môn...).

Điều 141 BLHS 2015 (áp dụng từ 1/1/2018) quy định, người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân thì bị phạt tù từ 2-7 năm.

Người phạm tội còn có thể bị phạt đến 20 năm tù hoặc chung thân; cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề tối đa 5 năm.

Luật sư lý giải, tội hiếp dâm được xem là tội phạm có cấu thành hình thức.

Do đó, việc đánh giá tội phạm đã hoàn thành việc giao cấu về mặt sinh lý hay chưa không phải là yếu tố để định tội danh.

Chỉ cần người nào có hành vi dùng vũ lực, hay đe doạ dùng vũ lực để thực hiện hành vi giao cấu, hoặc hành vi quan hệ tình dục khác (bằng miệng, hậu môn,...) với nạn nhân là tội phạm đã hình thành.

Tội này không bắt buộc người phạm tội phải thực hiện xong hành vi giao cấu về mặt sinh lý với nạn nhân mới bị quy kết.

Theo thông tin bạn cung cấp, tình huống người đàn ông dùng sức mạnh đẩy ngã chị hàng xóm để giao cấu, khi chưa kịp giao cấu về mặt sinh lý thì nạn nhân thoát được đã hình thành tội Hiếp dâm (theo Điều 141) mặc dù anh này chưa giao cấu về mặt sinh lý được. Việc người phụ nữ thoát được là ngoài ý muốn, mong muốn của kẻ phạm tội.

Điều luật mới cũng quy định, chủ thể tội hiếp dâm không chỉ bao gồm nam giới, nữ giới có hành vi này vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.0159 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quan hệ với người 17 tuổi bị thiểu năng trí tuệ, tâm thần có phạm tội hiếp dâm ?