1. Quy định của luật hình sự về tội hiếp dâm

Trả lời:

Mọi công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm. Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân đều có thể bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Trong đó hành vi xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục bị coi là tội phạm và bị xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự. Tùy từng dấu hiệu cụ thể của tội phạm mà bị xử lý theo các tội phạm khác nhau.

Tội hiếp dâm quy định tại điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 cụ thể như sau:

"1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm."

Giao cấu không thành có thể bị xử lý về tội hiếp dâm từ 01/01/2018 theo Bộ luật Hình sự

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162


Về chủ thể của tội hiếp dâm: là bất kỳ người nào có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và năng lực trách nhiệm hình sự. Theo quy định của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 thì người thực hiện hành vi phạm tội có thể là nam giới hoặc nữ giới.

Về khách thể của tội hiếp dâm:

Tội phạm này xâm phạm trực tiếp tới sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác. Hành vi của tội phạm không chỉ được thể hiện bởi hành vi giao cấu mà còn ở các hành vi quan hệ tình dục khác. Theo quy định mới thì nam giới có thể trở thành nạn nhân của tội hiếp dâm trong các trường hợp thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn của nạn nhân.

Về mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý. Người đó biết hành vi của mình là sai trái và trái ý muốn của nạn nhân nhưng vẫn thực hiện, để thỏa mãn ham muốn của bản thân.

Về mặt khách quan của tội phạm:

Người phạm tội có hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn của nạn nhân.

Trong đó, dùng vũ lực là các hành vi thực hiện để buộc nạn nhân phải cho người phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi tình dục khác như: giữ chân tay, bịt mồm, đánh đấm, trói… Những hành vi này chủ yếu làm tê liệt sự kháng cự của người bị hại để người phạm tội thực hiện việc giao cấu hoặc hành vi tình dục khác.

Đe doạ dùng vũ lực là hành vi dùng lời nói hoặc hành động uy hiếp tinh thần của người khác, làm cho người bị đe doạ sợ hãi như: doạ giết, doạ bắn,… làm cho người bị hại sợ hãi phải để cho người phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi tình dục khác trái với ý muốn của mình. Hành vi đe doạ dùng vũ lực quy định ở đây có thể hiểu là đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc.

Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân có thể được hiểu là tình trạng này có sẵn ở nạn nhân (nạn nhân bị bại liệt, bệnh tâm thần...) hoặc do người phạm tội tạo ra (người phạm tội cho nạn nhân uống thuốc mê, thuốc ngủ...), hoặc do các nguyên nhân khách quan khác (nạn nhân bị say, bất tỉnh, ốm đau bệnh tật mà sức khoẻ yếu...).

Thủ đoạn khác có thể hiểu là những thủ đoạn nhằm đưa người bị hại lâm vào tình trạng không còn khả năng làm chủ bản thân để thực hiện hành vi giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân.

Về hình phạt:

a) Người phạm tội Hiếp dâm tùy mức độ, hành vi phạm tội mà có thể bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm theo khoản 1 Điều 141 Bộ luật hình sự.

b) Trong trường hợp phạm một trong các trường hợp sau thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm theo quy định tại khoản 2 Điều 141 Bộ luật hình sự:

- Có tổ chức;

- Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

- Nhiều người hiếp một người;

- Phạm tội 02 lần trở lên;

- Đối với 02 người trở lên;

- Có tính chất loạn luân;

- Làm nạn nhân có thai;

- Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

- Tái phạm nguy hiểm.

c) Trường hợp phạm tội thuộc các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

- Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

- Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

- Làm nạn nhân chết hoặc tự sát

d) Pháp luật hình sự cũng phân rõ trường hợp phạm tội với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

e) Ngoài ra người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Luật sư tranh tụng các vụ án hình sự

>> Xem thêm:  Phân tích cơ sở pháp lý phán quyết của tòa án ?

2. Quy định về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

>>>Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Tương tự quy định về tội hiếp dâm, tội hiếp dâm trẻ em được quy định tại Điều 142 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Tội phạm này sửa đổi tội hiếp dâm trẻ em trong Bộ luật hình sự 1999 trước đây.

Tội phạm này có điểm khác biệt với tội hiếp dâm quy định tại Điều 141 Bộ luật hình sự về độ tuổi của nạn nhân - đó là những người dưới 16 tuổi. Tuổi của người bị hại là dấu hiệu bắt buộc cấu thành tội phạm này. Việc xác định tuổi của người bị hại trên cơ sở giấy khai sinh của họ. Trường hợp mất giấy khai sinh hoặc không có giấy khai sinh thì cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng tất cả các biện pháp có thể để xác định tuổi thật của bị hại.

Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi được chia làm hai loại:

- Đối với người bị hại từ 13 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi. Trường hợp này người phạm tội thực hiện hành vi giống như đối với người đã trên 16 tuổi quy định tại Điều 141 Bộ luật hình sự. Đó là "dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ.

- Đối với người bị hại chưa đủ 13 tuổi thì việc giao cấu hay thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác đều bị xử lý hình sự, không quy định về hành vi dùng vũ lực hay không. Bởi những người chưa đủ 13 tuổi là đối tượng yếu thế, không có khả năng bảo vệ mình.

Về hình phạt:

a) Người phạm tội thực hiện một trong hai trường hợp trên thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

b) Trường hợp phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

- Có tính chất loạn luân;

- Làm nạn nhân có thai;

- Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

- Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

- Phạm tội 02 lần trở lên;

- Đối với 02 người trở lên;

-Tái phạm nguy hiểm.

c) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

- Có tổ chức;

- Nhiều người hiếp một người;

- Đối với người dưới 10 tuổi;

- Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

- Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

- Trân trọng-

>> Xem thêm:  Đăng bài viết đòi nợ trên mạng xã hội có được xem là xúc phạm danh dự không?

3. Về việc khởi tố vụ án đối với trường hợp hiếp dâm?

>>>Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì:

"Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức."

Theo quy định trên, người bị hại có quyền tố giác tội phạm tới các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của người phạm tội. Trường hợp người bị hại rút đơn tố cáo thì không có quyền yêu cầu lại.

Khi cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 145 của Bộ luật tố tụng hình sự phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận; có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận.

Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận.

- Công an phường, thị trấn, Đồn Công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

- Công an xã có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai ban đầu và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

>> Xem thêm:  Mức phạt về tội làm nhục người khác như thế nào ? Phát tán video nhạy cảm bị phạt thế nào ?

4. Tư vấn về tội cưỡng dâm

Tư vấn về tội hiếp dâm trẻ em

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cưỡng dâm được quy định tại Điều 143 Bộ luật hình sự là việc người phạm tội dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.

Người lệ thuộc ở đây có thể là người được người phạm tội nuôi dưỡng, chu cấp về tài sản (ví dụ chu cấp chi phí sinh hoạt hàng tháng,..) hoặc lệ thuộc về tinh thần, công việc, giáo dục, tín ngưỡng (ví dụ người bị hại là người làm thuê cho người phạm tội, người bị hại là học sinh trong lớp, .....)

Người đang ở trong tình trạng quẫn bách trường hợp người bị hại đang lâm vào hoàn cảnh khó khăn, bức bách nhưng không tự mình khắc phục được mà cần có sự hỗ trợ, giúp đỡ của người khác (ví dụ: không có tiền chữa bệnh hiểm nghèo; không có tiền để chuộc con mình đang bị bắt cóc...)

Khác với tội hiếp dâm, hành vi thực hiện tội cưỡng dâm thể hiện ở chỗ người phạm tội dùng mọi thủ đoạn để khiến người bị hại phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.

Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp.

Về hình phạt:

a) Khung 1. Quy định phạt tù từ 01 năm đến 05 năm áp dụng đối với trường hợp phạm tội không có tình tiết định khung tăng nặng.

b) Khung 2. Quy định phạt tù từ 03 năm đến 10 năm áp dụng đối với một trong trường hợp phạm tội sau:

- Nhiều người cưỡng dâm một người;

- Phạm tội 02 lần trở lên;

- Đối với 02 người trở lên;

- Có tính chất loạn luân;

- Làm nạn nhân có thai;

- Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

- Tái phạm nguy hiểm..

c) Khung 3. Quy định hình phạt tù từ 10 năm đến 18 năm áp dụng đối với một trong các trường hợp phạm tội sau:

- Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

- Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

- Làm nạn nhân chết hoặc tự sát

d) Khung 4. Quy định cưỡng dâm người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

e) Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn về Tội vu khống, bôi nhọ danh dự làm hạ thấp uy tín cá nhân, Doanh nghiệp ?

5. Giao cấu không thành có thể bị xử lý về tội hiếp dâm?

Trả lời:

Tội hiếp dâm được quy định tại Điều 141 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 được xem là tội phạm có cấu thành hình thức. Do đó, việc đánh giá tội phạm đã hoàn thành việc giao cấu về mặt sinh lý hay chưa không phải là yếu tố để định tội danh.

Chỉ cần người nào có hành vi dùng vũ lực, hay đe doạ dùng vũ lực để thực hiện hành vi giao cấu, hoặc hành vi quan hệ tình dục khác (bằng miệng, hậu môn,...) với nạn nhân là tội phạm đã hình thành.

Do đó, tội phạm này không bắt buộc người phạm tội phải thực hiện xong hành vi giao cấu về mặt sinh lý với nạn nhân mới bị quy trách nhiệm.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Có quan hệ tình cảm với bạn gái 16 tuổi 3 tháng có bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?