Trả lời:

Trong Nghị quyết 63/111 ngày 05/12/2008, Đại hội đồng Liên hợp quốc kêu gọi các quốc gia nội luật hóa quy định của Công ước luật biển năm 1982 và thông qua các thỏa thuận song phương hoặc đa phương thúc đẩy hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học biển. Tuy nhiên, thực tiễn của các quốc gia liên quan đến hoạt động nghiên cứu khoa học biển cho thấy có những sự khác biệt nhất định. Một vài quốc gia có quy định khác với quy định của Công ước luật biển năm 1982, trong khi đó nhiều quốc gia tuân thủ chặt chẽ các quy định của Công ước luật biển năm 1982; một số nước khác có quy định không cho phép nghiên cứu khoa học tại các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia.

1. Quy định về nghiên cứu khoa học biển của một số quốc gia

Theo kết quả điều tra xã hội của ủy ban Hải dương học liên chính phủ (IOC) của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), các quốc gia có quy định về nghiên cứu khoa học biển thường đi theo một trong các xu hướng sau:

Thứ nhất, đa phần các quốc gia ven biển đều quy định rằng họ có quyền quyết định và quản lý hoạt động nghiên cứu khoa

học biển tại những vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia; tuy nhiên không quy định cụ thể những trường hợp cho phép quốc gia khác thực hiện nghiên cứu khoa học biển.

Thứ hai, một số quốc gia quy định rõ việc nghiên cứu khoa học biển tại vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia phải được sự đồng ý của quốc gia ven biển, nhưng cũng không có quy định rõ ràng về điều kiện cấp phép.

Ở cả hai xu hướng nêu trên, quốc gia ven biển đều không có sự phân biệt việc thực hiện nghiên cứu khoa học biển tại lãnh hải thuộc chủ quyền quốc gia và tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa thuộc quyền chủ quyền quốc gia.

Thứ ba, một số quốc gia ven biển có quy định tương đối cụ thể về nghiên cứu khoa học biển và bám theo các quy định của Công ước luật biển năm 1982.

>> Xem thêm:  Tố tụng dân sự quốc tế là gì ? Quy định về tố tụng dân sự quốc tế

Thứ tư, một số quốc gia quy định về điều kiện nghiên cứu khoa học biển, các thông tin cần cung cấp và trình tự, thủ tục xin cấp phép nghiên cứu khoa học biển.

Một trong những điểm đáng lựu ý là thực tiễn của các quốc gia bất lợi về địa lý và quốc gia không có biển trong thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học biển. Áo và Thụy Sỹ là những quốc gia không có biển nhưng đều là thành viên của IOC từ những năm I960. Tại Hội nghị Luật biển lần thứ III của Liên hợp quốc, Áo đặc biệt quan tâm đến vấn đề nghiên cứu khoa học biển và sau đó đã thực hiện nhiều hoạt động nghiên cứu tại vùng biển Adriatic. Điều đó cho thấy rằng sự bất lợi về mặt địa lý không là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến quyền thực hiện nghiên cứu khoa học biển. Theo quy định tại Điều 254 của Công ước luật biển năm 1982, khi được quốc gia ven biển cho phép nghiên cứu khoa học biển tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia đó, quốc gia và tổ chức quốc tế có thẩm quyền thực hiện dự án có nghĩa vụ cung cấp thông tin dự án cho quốc gia láng giềng không có biển và quốc gia láng giềng có hoàn cảnh địa lý bất lợi. Tuy nhiên, những quốc gia này chỉ được tham gia vào dự án khi có sự chấp nhận của quốc gia ven biển, quốc gia và tổ chức quốc tế có thẩm quyền thực hiện dự án.

2. Quy định về nghiên cứu khoa học biển trong pháp luật Việt Nam

Việt Nam là quốc gia ven biển có những ưu thế và vị trí chiến lược quan trọng đối với khu vực và trên thể giới. Việt Nam nằm dọc biển Đông là một trong những vùng biển nửa kýn rộng nhất thế giới với diện tích khoảng 3.447.000 km2. Do hoàn cảnh chiến tranh, Việt Nam chỉ thực sự có điều kiện ban hành nhiều quy định pháp luật về biển từ năm 1977. Với tuyên bố của Chính phủ ngày 12/5/1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, Việt Nam trở thành nước đầu tiên trong khu vực thiết lập vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. Việt Nam cũng là một trong những nước đầu tiên ở Đông Nam Á, bao gồm cả Indonesia và Philippines là hai quốc gia quần đảo phê chuẩn Công ước Luật biển năm 1982 trước khi Công ước có hiệu lực (ngày 23/6/1994).

Ngay từ khi Việt Nam chưa là thành viên của Công ước luật biển năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 242/HĐBT ngày 05/8/1991 quy định về việc các bên nước ngoài và phương tiện nước ngoài vảo nghiên cứu khoa học ở các vùng biển nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nghị định đã góp phần tạo điều kiện cho các hoạt động nghiên cứu khoa học biển của nước ngoài tại Việt Nam, tuy nhiên, do được ban hành cách đây hơn 25 năm, các quy định trong Nghị định có nhiều nội dung không còn phù hợp với thực tế.

Để hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu thực tiễn, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành như Luật Biển Việt Nam năm 2012, Luật Khoa học và công nghệ năm 2013, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015. Trong đỏ, Luật Biển Việt Nam năm 2012 và Luật Tài nguyên, môi trưởng biển và hải đảo năm 2015 đã qùy định tương đỗi cụ thể, toàn diện về thẩm quyền, trình tự, thủ tục cấp phép và quản lý hoạt động nghiên cứu khoa hộc của tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành trong vùng biển việt Nam. Nghị định số 41/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày ỉ 5/5/2016 quy định chi • tiết việc cấp phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam, thay thế Nghị định số 242/HĐBT ngày 05/8/1991.

Trong Luật Biển Việt Nam, nghiên cứu khoa học biển được quy định tại Điều 16, Điều 18, Điều 24 và Điều 36. Phù hợp với quy định của Công ước luật biển năm 1982, Việt Nam thừa nhận quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải Việt Nam. Tuy nhiên, khi thực hiện quyền đi qua không gây hại, tổ chức, cá nhân nước ngoài có nghĩa vụ tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam về nghiên cứu khoa học biển. Trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, Việt Nam có quyền tài phán đối với hoạt động nghiên cứu khoa học biển. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được thực hiện nghiên cứu khoa học trong ba trường hợp:

- Theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, bao gồm cả Công ước luật biển năm 1982;

- Trên cơ sở hợp đồng ký kết theo quy định của pháp luật Việt Nam;

>> Xem thêm:  Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân định biển của các quốc gia ?

- Được phép của Chính phủ Việt Nam.

Khi tiến hành hoạt động trên, tổ chức, cá nhân nước ngoài phải tuân thủ những điều kiện sau: thực hiện vì mục đích hòa bình; thực hiện với phương thức và phương tiện thích hợp, phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế liên quan; không gây cản trở đối với các hoạt động hợp pháp trên biển; bảo đảm cho các nhà khoa học và Nhà nước Việt Nam quyền tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học và quyền được chia sẻ các tài liệu, mẫu vật gốc, sử dụng và khai thác các kết quả khoa học thu được từ các hoạt động nghiên cứu, khảo sát.

Cùng với Luật Biển Việt Nam năm 2012, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 và Nghị định số 41/2016/NĐ-CP quy định cụ thể các điều kiện, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện nghiên cứu khoa học trên vùng biển Việt Nam.

Đối với nội thủy, lãnh hải thuộc chủ quyền quốc gia, hoạt động nghiên cứu khoa học biển của tổ chức, cá nhân nước ngoài phải được sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam; trong khi đó tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, Việt Nam chấp thuận cho tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện hoạt động nêu trên. Việc cho phép và chấp thuận được thể hiện bằng quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Khi thực hiện nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài được công bố và chuyển giao thông tin, kết quả nghiên cứu cho bên thứ ba. Tuy nhiên, đối với hoạt động nghiên cứu khoa học trong nội thủy và lãnh hải, việc công bố này chỉ được thực hiện sau khi có sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam. Đối với hoạt động nghiên cứu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, việc công bố kết quả nghiên cứu liên quan trực tiếp đến thăm dò, khai thác tại nguyên phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cơ nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam (Điều 21 khoản 2 Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015).

Tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam vì mục đích hòa bình. Việc nghiên cứu có thể nhằm mục tiêu nâng cao tri thức nhân loại, cũng có thể nhằm thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên. Pháp luật Việt Nam không hạn chế ở mục tiêu phi thương mại.

Bên cạnh đó, tổ chức, cá nhân nước ngoài có nghĩa vụ tôn trọng độc lập, chủ quyền lãnh thổ, không làm ảnh hưởng đến hoạt động quốc phòng, an ninh của Việt Nam, tuân thủ quy định về an toàn hàng hải và không được gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, hệ sinh thái biển, hải đảo.

Căn cứ vào mục tiêu và nội dung nghiên cứu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định cho phép hoặc chấp thuận tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam. Thời gian thực hiện dự án nghiên cứu không quá hai năm và có thể được gia hạn một lần không quả một năm. Cơ qụan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam có thể từ chối cấp phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học biển trong một số trường hợp:

- Nếu hoạt động nghiên cứu khoa học không vì mục đích hòa bình;

- Lầm phương hại đến chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tai phán quốc gia của Việt Nam, hoạt động quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam;

>> Xem thêm:  Eo biển quốc tế là gì ? Chế độ pháp lý eo biển quốc tế

- Làm phương hại đến trật tự, an toàn trên biển;

- Anh hưởng nghiêm trọng đến các hoạt động điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học, thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên biển đang được tiến hành hợp pháp trong vùng biển Việt Nam;

- Có sử dụng vật liệu nổ, hóa chất độc, các phương tiện, thiết bị khác có khả năng gây thiệt hại đối với người, tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường biển;

- Có xây dựng đảo nhân tạo, công trình trên biển;

- Có khoản ở đáy biển, lòng đất dưới đáy biển.

Trong một số trường hợp khác, tổ chức, cá nhân nước ngoài cũng bị từ chối khi cung cấp thông tin không chính xác về mục tiêu, nội dung của hoạt động nghiên cứu khoa học, không hợp tác với phía Việt Nam khi được yêu cầu hoặc trước đây đã được cấp phép để tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam và Công ước luật biển năm 1982 (Điều 3, Điều 4 Nghị định số 41/2016/NĐ-CP).

Như vậy, các quy định hiện hành của Việt Nam về nghiên cứu khoa học biển phù hợp với quy định của Công ước luật biển năm 1982, quy định toàn diện, cụ thể về việc cấp phép và quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam cũng không có bất kì quy định nào làm rõ khái niệm nghiên cứu khoa học biển.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Quần đảo là gì ? Quốc gia quần đảo là gì ? Vùng nước quần đảo được hiểu thế nào ?