1. Nguyên tắc chung để lấy mẫu thân thịt để phân tích vi sinh vật trong chuỗi thực phẩm
Căn cứ tại Mục 4 Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 7925:2018 có nêu rõ nguyên tắc chung để lấy mẫu nhân thịt để phân tích vi sinh vật trong chuỗi thực phẩm như sau:
- Chọn phương pháp lấy mẫu:
+ Phương pháp lấy mẫu phụ thuộc vào mục đích kiểm tra, độ nhạy cần thiết, và điều kiện thực tế.
+ Các phương pháp cắt, lau bề mặt, và tráng rửa được quy định trong tiêu chuẩn để đảm bảo sự linh hoạt và tính hiệu quả của việc lấy mẫu.
- Cắt mô bề mặt:
+ Thường đạt được số lượng vi sinh vật trên bề mặt cao hơn so với các phương pháp khác.
+ Độ lặp lại và độ tái lập ít dao động hơn so với phương pháp lau bề mặt.
+ Tuy nhiên, chỉ được ưu tiên khi có tỷ lệ nhỏ thân thịt và có thể ảnh hưởng đến giá trị của thịt.
- Các phương pháp lau bề mặt và tráng rửa:
+ Kiểm tra diện tích lớn hơn và làm việc tốt trên các vùng xác minh có mức ô nhiễm lớn nhất.
+ Phương pháp lau bề mặt thường được ưu tiên khi cần kiểm tra các vùng nhỏ hoặc khi chỉ có thưa thớt các vi sinh vật đích.
+ Có độ khó chuẩn hóa thấp hơn so với phương pháp cắt.
- Thực hiện cảm biến độ ô nhiễm:
Các phương pháp lau bề mặt và tráng rửa giúp kiểm tra các diện tích lớn và làm sáng tỏ vùng ô nhiễm.
- Tối ưu hóa phương pháp cắt:
+ Sử dụng phương pháp cắt cho thịt đông lạnh nếu là phương pháp phù hợp.
+ Phải cân nhắc đến vấn đề phá hủy và ảnh hưởng đến giá trị thịt.
- Tăng cường hiệu quả và khả thi:
+ Tận dụng kỹ thuật lau bề mặt và tráng rửa để kiểm tra các diện tích lớn và độ ô nhiễm đồng đều.
+ Đảm bảo tính khả thi khi lấy mẫu đối với gia cầm và các động vật nhỏ.
Tiêu chuẩn TCVN 7925:2018 cung cấp một khuôn khổ linh hoạt và chi tiết để đảm bảo việc lấy mẫu nhân thịt được thực hiện hiệu quả và chính xác, đồng thời tối ưu hóa các phương pháp để đáp ứng yêu cầu kiểm tra vi sinh vật trong chuỗi thực phẩm. Xây dựng kế hoạch kiểm soát chất lượng cho quy trình lấy mẫu để đảm bảo tính nhất quán và đáng tin cậy của kết quả. Tổ chức đào tạo và nâng cao năng lực cho những người thực hiện phương pháp lấy mẫu để đảm bảo sự hiểu biết đầy đủ và kỹ năng chuyên nghiệp. Tuân thủ chặt chẽ tiêu chuẩn và quy định để đảm bảo rằng quy trình lấy mẫu được thực hiện đúng cách và đạt được kết quả chính xác và đáng tin cậy.
2. Phương án lấy mẫu thân thịt để phân tích vi sinh vật trong chuỗi thực phẩm
Các phương án lấy mẫu nhân thịt, như quy định tại Mục 5 Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 7925:2018, đặt ra các nguyên tắc và yêu cầu cụ thể để đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy trong việc phân tích vi sinh vật trong chuỗi thực phẩm. Dưới đây là chi tiết nội dung liên quan:
- Tương ứng với mục đích thử nghiệm:
+ Các phương án lấy mẫu phải được lựa chọn dựa trên mục đích cụ thể của cuộc thử nghiệm.
+ Tính toán tỷ lệ nhiễm vi sinh vật gây bệnh cụ thể hoặc mức độ vệ sinh giết mổ.
- Giai đoạn xử lý và tần suất lấy mẫu:
+ Xác định giai đoạn xử lý, bắt đầu từ quá trình giết mổ.
+ Tần suất lấy mẫu phải được quyết định dựa trên các yếu tố như loại động vật, kích thước đàn, và điều kiện giết mổ cụ thể.
- Khảo sát thực hành giết mổ:
+ Đánh giá quy trình giết mổ cho từng loài động vật để xác định vùng cần lấy mẫu và thời điểm phù hợp.
+ Thiết kế bảo đảm kiểm soát dựa trên phân tích nguy cơ và giám sát hài hòa.
- Khối lượng giết mổ:
+ Đánh giá khối lượng giết mổ để xác định mức độ lấy mẫu cần thiết cho phân tích.
+ Cân nhắc tỷ lệ giết mổ đối với loại thịt cụ thể.
- Thống nhất với các quy định liên quan: Tương thích với các quy định liên quan như quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm và các yêu cầu xuất xứ của động vật.
- Tối đa hóa cơ hội phát hiện sinh vật gây bệnh:
+ Trong việc giám sát vi sinh vật gây bệnh, xác định vị trí và thời gian lấy mẫu để tối đa hóa khả năng phát hiện sinh vật gây bệnh.
+ Tăng tần suất lấy mẫu nếu có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ ô nhiễm.
- Thời gian và tần suất lấy mẫu theo mức độ vệ sinh: Trong kiểm soát quá trình, thời gian và tần suất lấy mẫu phải tương ứng với mức độ vệ sinh giết mổ và các yếu tố liên quan.
- Xác định vị trí và tần suất lấy mẫu:
+ Xác định vị trí lấy mẫu trên thân thịt để phản ánh mức ô nhiễm thực tế.
+ Tần suất lấy mẫu cũng cần được điều chỉnh dựa trên kích thước và đặc tính của loại thịt.
- Nắm bắt xu hướng qua kết quả giám sát trước đây: đánh giá kết quả giám sát trước đây để xác định xu hướng về mức độ ô nhiễm và điều chỉnh phương án lấy mẫu nếu cần thiết.
- Chú ý đến các quy định liên quan: Luôn duy trì tuân thủ với các quy định và hướng dẫn liên quan để đảm bảo tính chính xác và hợp pháp của kết quả phân tích.
Các nguyên tắc này đặt ra một khung cụ thể để lựa chọn và thực hiện các phương án lấy mẫu một cách hiệu quả và đồng nhất trong quá trình phân tích vi sinh vật trong nhân thịt.
3. Quy định về điểm lấy mẫu thân thịt trên dây chuyền sản xuất
Mục 6 của tiêu chuẩn quốc gia tcvn 7925:2018 tập trung vào việc quy định các điểm lấy mẫu trên dây chuyền sản xuất để đảm bảo kiểm soát chất lượng và vệ sinh trong quá trình sản xuất thực phẩm. dưới đây là chi tiết về các điểm lấy mẫu được đề cập trong tiêu chuẩn:
- Sau máy đánh lông thân thịt (lợn): điểm này phản ánh việc lấy mẫu ngay sau quá trình đánh lông lợn, tập trung vào mức độ vệ sinh ngay từ giai đoạn đầu của quá trình sản xuất.
- Sau máy rửa thân thịt (lợn và gia cầm): điểm này quan trọng để đánh giá hiệu suất của quá trình rửa thân thịt, đồng thời kiểm tra mức độ vệ sinh sau giai đoạn này đối với cả lợn và gia cầm.
- Sau khi lột da (gia súc lớn, thú săn giết mổ trong lò mổ và các loài khác): lấy mẫu tại điểm này giúp đánh giá quy trình lột da đối với các loài động vật khác nhau, đồng thời kiểm tra mức độ vệ sinh sau giai đoạn này.
- Sau khi bỏ nội tạng (tất cả động vật): điểm quan trọng để kiểm soát vệ sinh sau khi bỏ nội tạng, ảnh hưởng đến chất lượng và an toàn thực phẩm.
- Ngay trước khi làm mát hoặc đông lạnh (tất cả động vật): lấy mẫu trước khi làm mát hoặc đông lạnh giúp kiểm tra vệ sinh và chất lượng trước khi thực hiện các quy trình bảo quản.
- Ngay sau khi làm mát (gia cầm, gia súc nhỏ và động vật nhỏ khác): điểm này nhấn mạnh việc kiểm tra chất lượng ngay sau khi quá trình làm mát được thực hiện, tập trung vào các loại động vật cụ thể.
- Sau khi làm mát hoặc đông lạnh (tất cả động vật): lấy mẫu sau khi làm mát hoặc đông lạnh để kiểm tra vệ sinh và chất lượng sau khi quá trình bảo quản được thực hiện.
- Trong phòng làm mát (tất cả động vật): điểm cuối cùng trước khi sản phẩm được đưa ra thị trường, giúp kiểm tra và đảm bảo chất lượng cuối cùng của sản phẩm.
Trong khi lấy mẫu trong phòng làm mát, cần lưu ý đến ảnh hưởng của điều kiện làm mát đối với vi sinh vật. việc thực hiện lấy mẫu ngay sau khi giết mổ được khuyến khích để giảm ảnh hưởng của các yếu tố này và đảm bảo tính chính xác của kết quả đánh giá.
4. Yêu cầu về kỹ thuật lấy mẫu thân thịt
Yêu cầu kỹ thuật lấy mẫu theo quy định tại Mục 8 Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 7925:2018 như sau:
- Yêu cầu chung:
+ Trong mỗi tình huống lấy mẫu cụ thể, cần tuân thủ cùng một phương pháp lấy mẫu để đảm bảo tính so sánh được giữa các kết quả. Các phương pháp chủ yếu bao gồm phương pháp cắt (phá hủy), phương pháp lau bề mặt (không phá hủy), hoặc phương pháp tráng rửa.
+ Khi lấy mẫu lau bề mặt của thân thịt, kết quả thường được biểu thị bằng đơn vị hình thành khuẩn lạc (cfu) trên mỗi centimet vuông (cm2).
+ Khi sử dụng kỹ thuật tráng rửa, kết quả thường được biểu thị bằng cfu trên mỗi thân thịt. Đối với lấy mẫu da từ thân thịt gia cầm, kết quả được biểu thị bằng cfu trên mỗi gam (g).
- Gộp mẫu và phân tích:
+ Có thể gộp một số mẫu từ một thân thịt hoặc từ vài thân thịt tại cùng một vị trí lấy mẫu để tạo thành một mẫu chung để phân tích trong phòng thí nghiệm.
+ Mẫu từ một thân thịt hoặc vài thân thịt có thể được gộp thành một mẫu hỗn hợp, từ đó lấy một phần mẫu thử để phân tích.
- Phương pháp cắt:
+ Sử dụng hai phương pháp chính là sử dụng dụng cụ khoan và khuôn mẫu.
+ Phương pháp dụng cụ khoan thường được ưa chuộng khi lấy mẫu các diện tích nhỏ và phù hợp khi kiểm tra thịt đông lạnh.
+ Phương pháp khuôn mẫu thường lấy mẫu các diện tích lớn hơn, nhưng có thể khó sử dụng khi kiểm tra thịt đông lạnh.
- Lấy mẫu bề mặt thịt:
+ Cả hai phương pháp cắt và khuôn mẫu đều lấy mẫu bề mặt của thịt, với mục đích chủ yếu là lấy mẫu từ phần bên trong của thịt để đảm bảo việc kiểm tra sự vô trùng.
+ Phương pháp cắt thường tạo ra các mẫu có diện tích nhỏ hơn so với phương pháp khuôn mẫu.
- Đặc điểm của phương pháp cắt:
+ Phương pháp dụng cụ khoan và khuôn mẫu thường tạo ra các mẫu từ các diện tích khác nhau, nhưng cả hai phương pháp này đều cung cấp kết quả có độ lặp lại và tái lập tốt hơn so với phương pháp lau bề mặt.
+ Cần xem xét kích thước diện tích mẫu và sự phù hợp của nó với mục đích kiểm tra cụ thể.
- Dễ sử dụng khi kiểm tra thịt đông lạnh: Phương pháp dụng cụ khoan thường dễ sử dụng khi kiểm tra thịt đông lạnh, tuy nhiên, cần xem xét sự tiện lợi và độ chính xác của từng phương pháp dựa trên điều kiện thực tế.
Những yêu cầu này giúp đảm bảo rằng quy trình lấy mẫu được thực hiện một cách đồng nhất và chính xác, tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh và đánh giá kết quả phân tích vi sinh vật trong chuỗi thực phẩm.
Quý khách có nhu cầu xem thêm bài viết sau: Cơ sở về an toàn sinh học cấp 3 được xét nghiệm vi sinh vật nhóm 4?
Nếu bạn đang gặp bất kỳ vấn đề pháp lý hoặc có những câu hỏi cần được giải đáp, đừng ngần ngại liên hệ với chúng tôi thông qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến, hotline 1900.6162. Ngoài ra, bạn cũng có thể gửi yêu cầu và mô tả chi tiết vấn đề qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Chúng tôi cam kết sẵn sàng hỗ trợ và giải quyết mọi thắc mắc của bạn một cách nhanh chóng và chuyên nghiệp. Chân thành cảm ơn sự hợp tác và lòng tin của quý khách hàng!