Trả lời:

1. Phân định các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia

Phân định các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia chính là việc xác định đường biển giới quốc gia trong trường hợp vùng nội thủy hoặc lãnh hải của quốc gia chồng lấn với vùng biển tương ứng của quốc gia đối diện hoặc liền kề. Cho đến náy, các điều ước - nguồn cơ bản của luật biển quốc tế - chưa có quy định nào liên quan đến phân định nội thủy mặc dù vấn đề này có thể nảy sinh trong trường hợp một vài quốc gia có các cửa sông cùng đổ ra một vịnh. Theo Lời nói đầu Công ước luật biển năm 1982:

"Các vấn đề không quy định trong Công ước sẽ tiếp tục được xử lý bằng các quy tắc và nguyên tẳc của pháp luặt quốc tế chung”.

Vì vậy, các quốc gia có thể áp dụng nguyên tắc của pháp luật quốc tế chung hoặc tập quán quốc tế liên quan đến phân định các vùng biển khác (ví dụ như nguyên tắc thỏa thuận, nguyên tắc công bằng, quy tắc “cách đều - các hoàn cảnh đặc biệt/liên quan...”) để làm căn cứ pháp lý phân định nội thủy.

Đối với phân định lãnh hải, nguyên tắc chung là do các bên thỏa thuận. Trong trường hợp không có thỏa thuận, phương pháp phân định được ưu tiên là đường trung tuyến - tức là đường “mà mọi điểm nằm trên đó cách đều các điểm gần nhất của các đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia” (Điều 12 Công ước Giơnevơ 1958 về Lãnh hải và vùng tiếp giáp, Điều 15 Công ước luật biển năm 1982).

Tuy nhiên, phương pháp đường trung tuyến sẽ không được áp dụng trong phân định lãnh hải khi “có danh nghĩa lịch sử hoặc các hoàn cảnh đặc biệt khác”. Quy định này đã được cơ quan tài phán quốc tế tóm tắt trong công thức “cách đều - các hoàn cảnh đặc biệt”.1 Trong thực tiễn, công thức này được hiểu khác nhau:

- Trước hết, công thức này được hiểu là hai quy tắc riêng rẽ, trong đó, cách đều là phương pháp chung và các hoàn cảnh đặc biệt là ngoại lệ. Điều này có nghĩa là hoàn cảnh đặc biệt không phải là yếu tố để điều chỉnh đường cách đều mà là cơ sở để sử dụng phương pháp phân định khác với phương pháp cách đều. Cách hiểu này được thể hiện rõ trong các kết quả làm việc của ILC trình bày tại Hội nghị của UN về Luật biển lần I năm 1958.

- Thứ hai, công thức này được hiểu như một quy tắc kết hợp, nghĩa là đường cách đều là điểm bắt đầu cho quá trình phân định (đường tạm thời). Sau đó, đường này được chỉnh lại để tính đến các hoàn cảnh đặc biệt của vùng phân định, nếu như việc áp dụng cách đều một cách nghiêm ngặt sẽ dẫn đến kết quả không công bằng. Sự chủ định kết nối cách đều với các hoàn cảnh đặc biệt như là một quy tắc kết hợp đã được bày tỏ một cách rõ ràng trong quá trình các quốc gia tranh luận tại Hội nghị của UN về Luật biển lần III (ví dụ, đề nghị của phái đoàn của Anh) khi soạn thảo các điều khoản về phân định.

Thuật ngữ “đường trung tuyến” và “đường cách đều” được đề cập đến trong Công ước Giơnevơ 1958 về Thềm lục địa nhằm phân biệt việc phân định biển giữa các quốc gia đối diện và liền kề. Tuy nhiên, tất cả các báo cáo của ủy ban các chuyên gia và các văn bản trong quá trình đàm phán (travaux preparatoires) đều không cho thấy bằng chứng rõ ràng là hai thuật ngữ này đề cập đến các đường khác nhau. Điều đáng lưu ý là, các quy định về phân định lãnh hải và thềm lục địa đã được dự thảo bởi các ủy ban khác nhau, trong đó quy định về phân định thềm lục địa được thông qua trước, về phương diện hình học và trắc địa, đường trung tuyến và đường cách đều được hiểu là đường ở giữa. Trong khoa học pháp lý quốc tế, các thuật ngữ này cũng thường được sử dụng thay thế cho nhau, mặc dù thuật ngữ “đường trung tuyến” (giữa các quốc gia có bờ biển đối diện) không được sử dụng phổ biển như thuật ngữ “đường cách đều” (giữa các quốc gia có bờ biển liền kề).

Đường cách đều giữa các bờ biển đối diện (Mô tả đường cách đều giữa các bờ biển đối diện. Đoạn a-b là đường vuông góc với đường nối điểm A và B. Bất kể điểm nào trên đường phân đôi vuông góc a-b cũng cách đều các điểm A và B. Tuy nhiên, do bờ biển không ổn định, các đường thẳng như vậy hiểm khi kéo dài mà vẫn cách đều từ các bờ biển liên quan. Để duy trì sự cách đều, càn phải vẽ các đường vuông góc mới, phân đôi các điểm khác frên đường bờ biển. Do đó, điểm b là điểm cách đều 3 điểm A, B và c. Càc điểm A và c trở thành điểm để kiểm tra đường cách đều được vẽ tiếp theo. Vì vậy, điểm b là một điểm chuyền hướng trên đường cách đều chặt chẽ; đoạn b-c là đường phân đôi vuông góc của đường nối A và c, và cứ thế tiếp tục vẽ đường cách đều tiếp theo. Phương pháp này thường được áp dụng khi mà các đường bờ biển liên quan có chiều dài tương đồng với nhau và không có yếu tố hoàn cành đặc biệt (ví dụ như sự hiện diện của đào) làm cho đường cách đều trở thành không công bằng)

>> Xem thêm:  Công pháp quốc tế là gì ? Khái niệm công pháp quốc tế được hiểu như thế nào ?

Trong phân định lãnh hài, “có danh nghĩa lịch sử” là một trong các trường hợp mà phương pháp cách đều không được ưu tiên áp dụng. Mặc dù có nguồn gốc từ khái niệm “vịnh lịch sử” nhưng danh nghĩa lịch sử “có thể áp dụng [...] với các vùng nước không phải là các vịnh, nghĩa là các eo biển, các quần đảo, và nhìn chung là với tất cả các vùng nước mà có thể.được bao gộp vào vùng biển của một quốc gia”. Về lý thuyết, danh nghĩa lịch sử cho phép các quốc gia yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền đối với các vùng nằm ngoài ranh giới tối đa của các vùng mà về nguyên tắc thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của quốc gia. Nhìn chung, trong luật biển quốc tế, sự tồn tại của một danh nghĩa lịch sử phụ thuộc vào ba yếu tố:

- Việc thực hiện quyền lực trong một thời gian dài và phù hợp với danh nghĩa của vùng biển đang đuợc yêu sách;

- Tính rõ ràng, hiển nhiên và liên tục của việc thực hiện thẩm quyền này;

- Sự mặc nhiên thừa nhận của toàn thể cộng đồng quốc tế.1

Trên cơ sở các yếu tố này, một danh nghĩa lịch sử có nghĩa là không một quốc gia nào có thể có khả năng được phép thực thi các quyền lực đối với vùng mà danh nghĩa lịch sử được viện dẫn. Danh nghĩa lịch sử loại trừ sự tồn tại của bất kì danh nghĩa nào khác. Sự tồn tại cũng như bảo vệ một danh nghĩa lịch sử không phụ thuộc vào việc xác định đường phân định biển. Nói cách khác, do sự chồng lấn của các danh nghĩa là điều kiện làm nảy sinh việc phân định và về bản chất, danh nghĩa lịch sử là đặc quyền nên có thể khẳng định rằng, sự tồn tại của một danh nghĩa lịch sử sẽ loại trừ bất cứ sự phân định nào đối với vùng có danh nghĩa lịch sử đó.

2. Phân định các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia

Phân định các vùng biển thuộc quyền chủ quyền quốc gia là việc xác định đường ranh giới nhằm phân tảch các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của quốc gia này với vùng biển thuộc quyền chủ quyền của quốc gia khác trong trường hợp các vùng biển đó chồng lấn với nhau ở phía ngoài lãnh hải và các quốc gia ven biển có cùng danh nghĩa pháp lý.

Giống như phân định lãnh hải, khoản 3 Điều 24 Công ước Giơnevơ 1958 về Lãnh hải và vùng tiếp giáp quy định phương pháp ưu tiên trong phân định vùng tiếp giáp lãnh hải là đường trung tuyến, trừ khi các bên có thỏa thuận ngược lại. Tuy nhiên, điều khoản này hoàn toàn không đề cập đến tác động của các hoàn cảnh đặc biệt đối với đường phân định vùng tiếp giáp lãnh hải. Mặc dù vậy, tất cả các báo cáo của ủy ban các chuyên gia và các văn bản trong quá trình đàm phán tại Hội nghị của UN về Luật biển lần I năm 1958 cho thấy, việc không dẫn chiếu đến “các hoàn cảnh biệt” không phải là ý định thực sự của các bên:

Trước hết, ủy ban các chuyên gia đã Tuyên bố một cách rõ ràng rạng, ranh giới của các vùng tiếp giáp với lãnh hải phải được vẽ trên cơ sở giống hhư ranh giới lãnh hải.

>> Xem thêm:  Tố tụng dân sự quốc tế là gì ? Quy định về tố tụng dân sự quốc tế

Thứ hai, tại Hội nghị của UN về Luật biển lần I, phần lớn các quốc gia đã bày tỏ ý định giữ một kết cấu giống nhau cho tất cả các quy định về phân định biển.

Nói tóm lại, về thực chất, quy định về phân định vùng tiếp giáp lãnh hải trong Công ước Giơnevơ 1958 có nội dung giống như phân định lãnh hải và thềm lục địa. Điều này có nghĩa là, khoản 3 Điều 24 Công ước Giơnevơ 1958 về Lãnh hải và vùng tiếp giáp được áp dụng theo cách tương tự như công thức “cách đều - các hoàn cảnh đặc biệt/liên quan”.

Tại Hội nghị của UN về Luật biển lần III, việc ghi nhận vùng đặc quyền kinh tế - một vùng biển mới so với các Công ước trước đây - đã làm nảy sinh tranh luận về sự tiếp tục tồn tại của vùng tiếp giáp lãnh hảí. Cuối cùng, với quan điểm rằng, mặc dù vùng đặc quyền kinh tế bao trùm lên toàn bộ vùng tiếp giáp lãnh hải nhưng sự tồn tại của vùng tiếp giáp lãnh hải còn nhằm mục đích khác với phần còn lại của vùng đặc quyền kinh tế nên vùng tiếp giáp lãnh hải vẫn tiếp tục được ghi nhận trong Điều 33 Công ước luật biển năm 1982. Tuy nhiên, Công ước luật biển năm 1982không co quy định nào về phân định vùng tiếp giáp lãnh hải. Như vậy, về phạm vi không gian, vùng tiếp giáp lãnh hải được coi là một phần của vùng đặc quyền kinh tế nên việc phân định vùng tiếp giáp lãnh hải sẽ phải tuân thủ các nguyên tắc phân định vùng đặc quyền kinh tế được quy định tại Điều 83 Công ước luật biển năm 1982.

Về phương diện pháp lý, vùng đặc quyền kinh tế là một vùng biển hoàn toàn mới và có bản chất pháp lý cũng như tính chất quyền chủ quyền khác với vùng thềm lục địa. Vì vậy, các quy định về phân định hai vùng biển này được pháp điển hóa riêng rẽ trong hai điều khoản khác nhau - Điều 74 và Điều 83 Công ước luật biển năm 1982. về thực tế, tại Hội nghị của UN về Luật biển lần III, các quy định về phân định vùng đặc quyền kinh tế đã được các quốc gia đàm phán và soạn thảo song song với các quy định về phân định thềm lục địa. Hơn nữa, trong một số trường hợp, vùng đặp quyền kỉnh tế có thể bao trùm toàn bộ vùng thềm lục địa. Đơđế, Điều 74 và Điều 83 Công ước luật biển năm 1982 quy định về phân định vùng đặc quyền kinh tếthềm lục địa với nội dung hoàn toàn giống nhau, đó là:

“1. Việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế (thềm lục địa) giữa các quôc gia có bờ biển tiếp liền hay đoi diện được thực hiện bằng con đường thỏa thuận trên cơ sở pháp luật quốc tế, như đã nêu ở Điều 38 Quy chế của Tòa án công lý quốc tế, đề đi đến một giải pháp công bằng’’.

Như vậy, cũng giống như phân định lãnh hải, thỏa thuận vẫn là nguyên tắc cao nhất để các bên hữu quan giải quyết các vấn đề về phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Tuy nhiên, Điều 74 và Điều 83 Công ước luật biển năm 1982 không yêu cầu các bên bắt buộc phải áp dụng hoặc phải ưu tiên bất cứ một phương pháp nào khi phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, mà chỉ yêu cầu rằng việc phân định phải nhằm đạt được “giải pháp công bằng”. Điều này không những khác với các quy định về phân định lãnh hải mà còn khác với các quy định về phân định thềm lục địa trong Công ước Giơnevơ 1958 về Thềm lục địa. Điều 6 Công ước Giơnevơ 1958 về Thềm lục địa hoàn toàn không đề cập đến “giải pháp công bằng” nhưng đã đưa ra quy tắc phân định tương tự như phân định lãnh hải, đó là: Trừ khi có thỏa thuận ngược lại hoặc có sự tồn tại của “các hoàn cảnh đặc biệt”, phân định thềm lục địa được tiến hành bằng việc sử dụng phương pháp đường trung tuyến/cách đều.

Sự chuyển hướng từ đường trung tuyến/cách đều với tính chất là một phương pháp được ưu tiên trong phân định sang cách tiếp cận hướng đến “giải pháp công bằng” là kết quả của sự thiếu nhất trí giữa các quốc gia tham gia Hội nghị của UN về Luật biển lần III về vấn đề phân định biển được tiến hành theo quy tắc kết hợp “cách đều - các hoàn cảnh đặc biệt” hay trên cơ sở “các nguyên tắc công bằng”. Vào những ngày cuối cùng diễn ra Hội nghị luật biển làn III, trên cơ sở đề nghị của Koh - Chủ tịch Hội nghị, Điều 74 và Điều 83 Công ước luật biển năm 1982 mới được thông qua. Để dung hòa giữa hai nhóm quan điểm, quy tắc phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Công ước luật biển năm 1982 không trực tiếp đề cập tới phương pháp “đường trung tuyến/cách đều” cũng như “các nguyên tắc công bằng” và “các hoàn cảnh đặc biệt”. Phương pháp để đạt được “giải pháp công bằng” trong phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa chỉ được đề cập một cách gián tiếp là “trên cơ sở pháp luật quốc tế”. Để đạt được “giải pháp công bằng”, các hoàn cảnh và các phương pháp được cân nhắc, xem xét trpng phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phải là các hoàn cảnh và phương pháp hoàn toàn được luật quốc tế cho phép và quan trọng hơn, được luật quốc tế yêu cầu phải làm như vậy.

Mặt khác, mặc dù Công ước luật biển năm 1982 không quy định trực tiếp việc áp dụng “các nguyên tắc công bằng” trong phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa nhưng yêu cầu thỏa thuận để đi đến một “giải pháp công bằng” chính là thể hiện nội dung của “các nguyên tắc công bằng”. Vì vậy, cách tiếp cận hướng đến “giải pháp công bằng” theo quy định trong khoản 1 Điều 74 và khoản 1 Điều 83 Công ước luật biển năm 1982 cũng như trong luật tập quán quốc tế đã được cơ quan tài phán quốc tế tóm gọn trong công thức “các nguyên tắc công bằng - các hoàn cảnh liên quan”.1 Hơn nữa, công thức “các nguyên tắc công bằng - các hoàn cảnh liễn quan” áp dụng trong phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa rất giống với công thức “cách đều - các hoàn cảnh đặc biệt” áp dụng trong phân định lãnh hải bởi vì chúng đều nhằm đạt được kết quả công bằng.

Theo quan điểm của cơ quan tài phán quốc tế, công bằng không chỉ là mục đích mà còn là nguyên tắc chỉ đạo đối với toàn bộ quá trình phân định biển. Để đạt được giải pháp công bằng, cần phải xem xét mỗi trường hợp là một imỉcỉum - nghĩa là một hoàn cảnh đặc thù, không giống với các trường hợp khác và cần phải có một giải pháp đặc thù. Muốn đạt được kết quả công bằng cần phải áp dụng nguyên tắc công bằng của phân định biển phù hợp với thực tế và hoàn cảnh liên quan của khu vực phân định.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân định biển của các quốc gia ?