Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

1. Thực thể lúc nổi lúc chìm trong luật biển quốc tế là gì?

Khái niệm “thực thể lúc nổi lúc chìm” đã được đề cập tại Điều 11 Công ước 1958 về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp và được nhắc lại tại Điều 13(1) Công ước 1982, theo đó các thực thể lúc nổi lúc chìm là “những vùng đất nhô cao tự nhiên có biển bao quanh, khi thủy triều xuống thấp thì lộ ra, khi thủy triều lên cao thì bị ngập nước”.

Như vậy, các thực thể này có 3 đặc điểm:

+ Là những thực thể đất tự nhiên có nước bao quanh;

+ Nổi lên trên mặt nước khi thủy triều xuống thấp; và

+ Chìm dưới mực nước biển khi thủy triều lên.

Nghiên cứu của Liên hợp quốc (LHQ) định nghĩa đây là một thực thể nằm giữa lúc thủy triều lên và xuống (inter-tidal)và chỉ có thể nhìn thấy được vào lúc biển lặng vào một số giai đoạn của thủy triều, nhưng không phải là vào lúc thủy triều lên cao.

Khái niệm “đất tự nhiên” được hiểu là “phần nhô lên của đáy biển tạo ra bởi tự nhiên cấu thành từ đất hoặc những loại vật chất khác như cát, bùn, sỏi, đá vôi kết hợp với vụn san hô… nhưng không phải băng (ice)”. Do vậy, các thực thể này có thể có những dạng khác nhau miễn là nằm trên mực nước biển. Chúng có thể là một bãi bùn (mud flats), đá (rock); bãi san hô (shoal), hoặc dải cát (sandbars) bất kể kích thước của chúng như thế nào.

2. Phân biệt thực thể lúc nổi lúc chìm và các thực thể trên biển

“Thực thể lúc nổi lúc chìm” được phân biệt với một số thực thể trên biển như đảo (island), đá (rock), đảo nhân tạo (artificial island), bãi ngầm (low tide submerged feature).

2.1. Đảo tự nhiên

Đảo tự nhiên được định nghĩa là một vùng đất hình thành một cách tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước. Các “thực thể lúc nổi lúc chìm” giống các “đảo tự nhiên” ở các điểm sau đây:

+ Chúng đều là những phần đất tự nhiên, nghĩa là có sự gắn kết hữu cơ với đáy biển và không phải hình thành do hoạt động cải tạo tự nhiên của con người;

+ Cả hai đều được bao bọc bởi nước biển.

Tuy nhiên, nếu đặc điểm quan trọng nhất của một “đảo tự nhiên” là luôn ở trên mặt nước thì một “thực thể lúc nổi lúc chìm” có đặc điểm là không ở trên mặt nước khi thủy triều lên. Bên cạnh đó, các đảo tự nhiên có khả năng tạo ra các vùng biển xung quanh nó như nội thủy, lãnh hải, thậm chí là đặc quyền kinh tế và thềm lục đị, trong khi các thực thể lúc nổi lúc chìm không có khả năng này. Ngoài ra, khác với các thực thể lúc nổi lúc chìm, Công ước 1982 không phân biệt về vị trí của các đảo là nằm trong phạm vi lãnh hải của một quốc gia hay ngoài phạm vi đó, chúng đều có khả năng tạo ra các vùng biển.

2.2. Đá

Về mặt lý luận không tồn tại sự khác biệt giữa thực thể là “đảo” hay “đá”. Khái niệm “đá” hay “đảo” không đồng nghĩa với việc chúng là hai thực thể khác nhau mà chỉ đơn giản là khác nhau về mặt cấu tạo vật lý. Một “đá” có thể coi là một dạng của “đảo” (island)- thực thể nổi trên mặt nước khi thủy triều lên cao nhất (high tide features). Ngay trong Điều 121 thì khoản 1 là về “đảo” (island), khoản 3 nói về trường hợp đặc biệt của đảo đó là “đá” (rock), ám chỉ những thực thể đảo nhỏ, phân biệt với các thực thể “hoàn toàn có quyền là đảo” (fully entitled island).

Sự khác nhau giữa “đảo” và “đá” là về khả năng tạo ra các vùng biển xung quanh. Cụ thể, một “đảo” sẽ có khả năng tạo ra xung quanh nó một vùng lãnh hải (chiều rộng tối đa là 12 hải lý), một vùng đặc quyền kinh tế (tối đa 200 hải lý) cũng như một thềm lục địa theo quy định của Điều 76. Quyền có các vùng biển như vậy được áp dụng như đối với các lãnh thổ đất liền khác, nếu như thực thể “đảo” đó thỏa mãn tiêu chí “thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng”. Trái lại theo Điều 121(3) thì “những đảo đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng, thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa”, thay vào đó chúng có vùng lãnh hải rộng tối đa 12 hải lý. Trong cả hai trường hợp, tiêu chí “luôn ở trên mặt nước” và khả năng “thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng” là những cơ sở để phân biệt với thực thể lúc nổi lúc chìm. Đáng chú ý là, khi mà các đảo hoặc đá có vai trò nhất định trong phân định biển, các thực thể lúc nổi lúc chìm vể cơ bản là không có vai trò này.

2.3. Đảo nhân tạo

Một “đảo nhân tạo” là một nền tảng cố định vĩnh viễn hoặc tạm thời do con người tạo nên. Chúng được bao quanh bởi nước và nổi trên mặt nước khi thủy triều lên. Đảo nhân tạo được hình thành là kết quả của việc xây dựng trên các loại đá tự nhiên và các rạn san hô vĩnh cửu. Một thực thể lúc nổi lúc chìm khác với thực thể này ở chỗ nó không phải hình thành do hoạt động cải tạo tự nhiên của con người. Kết hợp với các quy định về đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trong vùng đặc quyền kinh tế tại Điều 60 Công ước 1982, nếu có sự bồi đắp, cải tạo hoặc xây dựng các công trình trên đó thì cũng không làm thay đổi quy chế pháp lý của các thực thể lúc nổi lúc chìm. Nói cách khác, các hoạt động nhằm hoán cải quy chế pháp lý của các thực thể này để trở thành đảo tự nhiên để phục vụ cho mục đích khẳng định chủ quyền sẽ không thể được chấp nhận.

2.4. Bãi ngầm

Một bãi ngầm(submerged features) là những thực thể hoàn toàn ngập dưới mực nước biển, kể cả khi nước thủy triều xuống thấp nhất. Điểm chung giữa các thực thể lúc nổi lúc chìm và các bãi ngầm là ở chỗ:

+ Chúng đều là những thực thể có sự gắn bó hữu cơ với đáy biển và

+ Chúng có những giá trị nhất định trong việc thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển.

Các bãi ngầm có thể sử dụng để phục vụ cho các hoạt động của quốc gia ven biểnnhằm thực hiện các quyền chủ quyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa.

3. Quy chế pháp lý của các thực thể lúc nổi lúc chìm trong luật biển quốc tế

Theo điều 13(2) Công ước 1982, các thực thể lúc nổi, lúc chìm sẽ không có lãnh hải riêng. Chúng cũng không đáp ứng tiêu chuẩn của một đảo nên cũng cũng không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Khác với đảo, sự hiện diện của các thực thể lúc nổi lúc chìm không có tác động đến việc hoạch định ranh giới các vùng biển như hoạch định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa. Quy chế pháp lý của các thực thể lúc nổi lúc chìm thể hiện trong các trường hợp dưới đây.

3.1. Xác định đường cơ sở thẳng

Quy tắc chung áp dụng cho việc xác định đường cơ sở thẳng trong luật quốc tế là không thể dựa trên các điểm là thực thể lúc nổi lúc chìm. Mặc dù vậy, chúng có thể được sử dụng làm các điểm để xác định đường cơ sở thẳng trong hai trường hợp đặc biệt, cụ thể:

+ Nếu vị trí của chúng nằm cách bờ biển của lãnh thổ đất liền một khoảng cách không vượt quá chiều rộng lãnh hải tính từ bờ biển lãnh thổ đất liền đó; và

+ Nếu vị trí của chúng nằm cách bờ biển của đảo một khoảng cách không vượt quá chiều rộng lãnh hải tính từ bờ biển của đảo liên quan (Điều 13(1) Công ước 1982).

Quy tắc này cũng áp dụng cho việc xác định đường cơ sở của một quốc gia quần đảo theo Điều 47 Công ước 1982.

Nói cách khác, hiệu lực của các thực thể lúc nổi lúc chìm khi xác định đường cơ sở thẳng phụ thuộc vào việc chúng có được sử dụng làm điểm để xác định đường cơ sở hay không . Các thực thể lúc nổi lúc chìm chỉ có thể góp phần tạo ra lãnh hải trong trường hợp này nếu trên chúng có những đèn biển hoặc các thiết bị tương tự thường xuyên nhô trên mặt nước hoặc việc vạch các đường cơ sở thẳng đó đã được sự thừa nhận chung của quốc tế. Điều đáng nói là Điều 7 Công ước 1982 không quy định rõ ràng sau bao nhiêu lâu thì một đèn biển hoặc một thiết bị tương tự như vậy được coi là hợp pháp. Do đó, các quốc gia có quyền tự do trong việc xây dựng các thiết bị như vậy và sau đó sử dụng chúng làm điểm xác định đường cơ sở thẳng theo Điều 7(4).

Trong thực tiễn, các thực thể lúc nổi lúc chìm có thể tạo ra những hoàn cảnh liên quan (relevant circumstances) trong việc phân định biển, bao gồm vấn đề xác định đường cơ sở. Trong vụ kiện tranh chấp ngư trường giữa Anh và Na Uy, khi xem xét đến tính hợp pháp của đường cơ sở thẳng của Na Uy năm 1949, Tòa đã chấp nhận thực tế rằng một số thực thể lúc nổi lúc chìm đã được sử dụng làm điểm để xác định đường cơ sở thẳng của Na Uy. Trong vụ kiện về phân định thềm lục địa giữa Anh và Pháp năm 1977, Tòa Trọng tài đã phải xem xét liệu thực thể Eddystone Rocks là đá hay thực thể lúc nổi lúc chìm để xác định nó có thể được sử dụng là điểm xác định đường cơ sở hay không và sau đó đã chấp nhận hiệu lực của thực thể này, dựa trên thực tiễn của hai bên trước đó. Tương tự, trong vụ tranh chấp về giữa Tunisia và Lybia, hai nước đã có quan điểm khác nhau về việc liệu đảo Djerba và nhóm đảo Kerkennah cùng các thực thể lúc nổi lúc chìm xung quanh nó có thể có hiệu lực trong hoạch định thềm lục địa giữa hai nước hay không. Tòa án công lý quốc tế cuối cùng đã chấp nhận sử dụng nhóm đảo Kerkennah và các thực thể lúc nổi lúc chìm của chúng, mặc dù chỉ chấp nhận một phần hiệu lực (half-effects) mà không giải thích gì thêm. Trong vụ kiện phân định biển giữa Eritrea và Yemen, Tòa Trọng tài đã bác bỏ yêu cầu của Eriteria sử dụng thực thể Negileh Rock là điểm xác định đường cơ sở của nước này khi cho rằng đó là một bãi đá ngầm (reef). Tại vụ kiện về phân định biển và lãnh thổ giữa Qatar và Bahrain năm 2001, Tòa án công lý quốc tế đã xem xét vị trí và hiệu lực của Fasht al Azm (thực thể lúc nổi lúc chìm) và chấp nhận một phần hiệu lực (partial effect) trong phân định. Ngoài ra, Tòa đã coi thực thể Jaradah là một đảo mà không phải là thực thể lúc nổi lúc chìm, thỏa mãn tiêu chí của Điều 121 Công ước 1982.

3.2. Quy chế pháp lý cụ thể

Quy chế pháp lý của các thực thể lúc nổi lúc chìm sẽ khác nhau tùy thuộc vào vị trí của các thực thể này so với các thực thể là đảo hoặc đất liền, cụ thể:

Một là, nếu chúng nằm trong phạm vi 12 hải lý tính từ đất liền hoặc từ các đảo hay đá khác và sẽ có quyền nối thành đường cơ sở với các đảo, đá đó: chúng có thể đóng vai trò như một bộ phận hợp thành của thực thể có quy chế đảo gần nhất.

Hai là, nếu vị trí của chúng nằm ngoài phạm vi 12 hải lý của các đảo gần nhất, lúc này quy chế pháp lý của chúng sẽ tùy thuộc vào 2 khả năng:

+ Nếu chúng nằm hoàn toàn trong phạm vi 200 hải lý của vùng đặc quyền kinh tế hoặc trong phạm vi chiều rộng tối đa thềm lục địa của quốc gia ven biển tính từ đường cơ sở hiện hành, Điều 56 và 77 Công ước 1982 khẳng định quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển chủ yếu liên quan đến việc thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý đối với tài nguyên thiên nhiên sinh vật và không sinh vật. Quốc gia ven biển có cơ sở pháp lý để khẳng định tính hợp pháp và có quyền tiến hành các hoạt động xây dựng công trình thiết bị nhân tạo cũng như các hoạt động nhằm thực thi quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các thực thể lúc nổi lúc chìm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ đường cơ sở hiện hành.

+ Nếu chúng nằm trong phạm vi 200 hải lý của vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển được tạo ra do một đảo liên quan thỏa mãn tiêu chí là đảo “thích hợp cho con người đến ở” hoặc “có một đời sống kinh tế riêng”, chúng sẽ thuộc phạm vi quyền chủ quyền, quyền tài phán của quốc gia có chủ quyền với đảo này.

+ Nếu chúng nằm ngoài giới hạn 12 hải lý từ các đảo liền kề; hoặc ngoài phạm vi 200 hải lý của vùng đặc quyền kinh tế; hoặc phạm vi chiều rộng tối đa thềm lục địa của quốc gia ven biển tính từ đường cơ sở hiện hành từ bờ biển hoặc một đảo mà quốc gia có chủ quyền thỏa mãn tiêu chí “thích hợp cho con người đến ở”hoặc“có một đời sống kinh tế riêng”, các thực thể nói trên nằm trên vùng biển quốc tế và vì vậy không một quốc gia nào có quyền tuyên bố chủ quyền.

Nguồn: Trần Thăng Long - Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam số 09(103)/2016.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập