Trả lời:

1. Khái niệm luật biển quốc tế

Trái đất có 71% là biển cả (khoảng 362 triệu km2). Thái Bình Dương là đại dương lớn nhất, nằm giữa châu Á và châụ Mỹ, với diện tích 180 triệu km2, bằng diện tích của Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương. Toàn bộ diện tích đất liền trên thế giới có thể chứa gọn trong lòng Thái Bình Dương. Đại Tây Dương ỉà đại dương lớn thứ hai, rộng khoảng 106 triệu km2, nằm giữa châu Âu, châu Phi và châu Mỹ. Ấn Độ Dương nằm ở phía nam Ấn Độ, với diện tích khoảng 75 triệu km2. Biển cả bao gồm ba thành phàn chính:

- Khối nước biển, chiếm 97,3% toàn bộ lượng nước của hành tinh. Cột nước này chứa nhiều tài nguyên sinh vật cũng như tài nguyên không sinh vật hòa tan trong nước.

- Thềm lục địa, chứa 90% trữ lượng dầu khí ngoài khơi. Thềm lục địa và đáy đại dương có tiềm năng dầu khí gấp hai lần so với trên đất liền. Từ cuối thế kỉ XX đến nay, phần lớn sản lượng dầu và khí được khai thác ở thềm lục địa.

- Đáy đại dương và các dãy núi đại dương, nơi chứa đựng các loại quặng đa kim như đồng, titan, sắt và mangan...

Biển chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú bên cạnh những giá trị khác như công nghiệp, giao thông, điều hòa khí hậu, hấp thụ và tiêu thụ chất thải. Biển cả là môi trường thông thương, qua bao thế kỉ các tư tưởng đã được truyền bá, con người và hàng hóa đã được vận chuyển. Biển cả gắn liền với các phát hiện lớn, hoạt động truyền đạo và các cuộc viễn chinh. Biển cả còn là nguồn cung cấp thức ăn quan trọng cho cuộc sống của con người. Cùng với trồng trọt, săn bắn và hái lượm, nghề đánh cá biển cũng đã sớm phát triển, đóng một vai trò không thể thiếu trong hoạt động cùa con người, kể cả ngày nay.

Biến đã đóng vai trò không thể thiếu trong sự phát triển của loài người. Không có biển thì sẽ không có thế giới ngày nay. Biển cho phép xây dựng và phát triển những nền văn minh. Sớm bước ra biển, những nền văn minh nhân loại như Hy Lạp, La Mã, Ấn Độ... đã có thể mở rộng ảnh hưởng, tác động tới sự phát triển tinh thần, đạo đức và vật chất của phần lớn trái đất. Nhờ có biển, các quốc gia có lãnh thổ đất liền không lớn, dân số không nhiều đã có thể vươn lên nắm giữ các vị trí về chính trị và thương mại. Xu hướng tiến ra biển thể hiện rõ nét trong lịch sử phát triển của các quốc gia. Với sự bùng nổ về dân sổ, nguồn tài nguyên trên đất liền dần cạn kiệt, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, các mối quan tâm ngày càng tăng về môi trường, an ninh - quốc phòng, biển lại càng đỏng vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia cũng như của cộng đồng quốc tế. Hướng ra biển, “làm chủ” biển và đại dương là xu thế không thể đảo ngược. Nhằm điều hòa lợi ích của các quốc gia ở trên biển và sử dụng, khai thác biển một cách hòa bình, cần phải xây dựng một trật tự thế giới mà ở đó các nước có quyền lực, ảnh hưởng lớn cũng phải tuân thủ nguyên tắc xử sự giữa các chủ thể của quan hệ quốc tế. Đó là trật tự công bằng trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Những tư tưởng về khai thác, sử dụng biển đã hình thành trong lịch sử phản ánh cuộc đấu tranh trong việc xây dựng một trật tự pháp lý trên biển; các nguyên tắc, qui phạm của Luật biển quốc tể từng bước được hoàn thiện. Đặc biệt, sau năm 1945 quá trình pháp điển hóa Luật biển quốc tế diễn ra mạnh mẽ với thành tựu về lập pháp là Công ước Luật biển năm 1982 (UNCLOS 1982).

Luật biển quốc tế bao gồm các nguyên tắc, quy phạm do các quốc gia và các chủ thể khác của Luật biển quốc tế thỏa thuận xây dựng nên hoặc thừa nhận các tập quán quốc tế nhằm thiết lập quy chế pháp lý các vùng biển và các hoạt động sử dụng, khai thác, bảo vệ biển cũng như quan hệ hợp tác, giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể. Luật biển quốc tế là một ngành luật độc lập của hệ thống pháp luật quốc tế, thể hiện bản chất và quá trình phát triển của Luật quốc tế.

>> Xem thêm:  Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phân định biển của các quốc gia ?

2. Đặc điểm của Luật biển quốc tế

2.1 Chủ thể của Luật biển quốc tế

* Quốc gia

Xuất phát từ việc sử dụng và khai thác biển, có thể xác định chủ thể tham gia quan hệ Luật biển quốc tế trước hết là các quốc gia. Điều 305 UNCLOS 1982 quy định: Công ước để ngỏ cho tất cả các quốc gia tham gia.

Quốc gia là chủ thể phổ biến của Luật biển quốc tế. Biển liên quan đến mọi mặt của đời sống một quốc gia. Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật hiện nay, biển không chỉ có giá trị về kinh tế, mà còn đặc biệt quan trọng đối với an ninh, quốc phòng và môi trường. Tất cả những lĩnh vực này đều quan hệ mật thiết đến lợi ích thiết thực và sống còn của mỗi quốc gia.

Về phương diện pháp lý, các quốc gia bình đẳng và Luật biển quốc tế với các nguyên tắc và quy phạm pháp luật đảm bảo sự bình đẳng giữa các quốc gia thông qua các quy định cụ thể về nhóm quốc gia như: quốc gia có biển, quốc gia không có biển, quốc gia bất lợi về địa lí, quốc gia quần đảo, quốc gia đảo... Nhóm quốc gia và mỗi quốc gia có đặc thù riêng về vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên, vì vậy lợi ích mà biển mang lại sẽ khác nhau. Với những quy định của Luật biển quốc tế, những khác biệt về tự nhiên không làm thay đổi tính chất bình đẳng của quốc gia với tư cách là chủ thể luật quốc tể cũng như quá trình quản lý, khai thác và sử dụng biển.

* Tổ chức quốc tế liên chính phủ

Phù hợp với lý luận về chủ thể luật quốc tế, các tổ chức quốc tế liên chính phủ được xác định là chủ thể phái sinh của Luật biển quốc tế. Cho đến đầu thế kỉ XX, các tổ chức quốc tế liên quan đến biển phát triển chưa nhiều, phần lớn đều hoạt động trong các lĩnh vực truyền thống như nghề cá hoặc hàng hải. Chỉ đến sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai thì hàng loạt tổ chức quốc tế về biển mới hình thành, như Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO), Tổ chức khí tượng quốc tế (WMO), Tổ chức hợp tác kinh tế biển Đen (BSEC)... So với thời kì trước, các tổ chức thời kì này trở nên đa dạng, phong phú. Trong số đó, nhiều tổ chức đã thể hiện rõ vai trò quan trọng trong hoạt động pháp điển hóa Luật biển quốc tế như UN thông qua ba hội nghị về Luật biển.

Điều 305 và Phụ lục IX UNCLOS 1982 quy định khá chi tiết về sự tham gia với tư cách thành viên UNCLOS 1982 của tổ chức quốc tế liên chính phủ. Trên cơ sở UNCLOS 1982, một sổ tổ chức quốc tế cũng đã được thành lập và tham gia vào quá trình khai thác, sử dụng các vùng biển như Cơ quan quyền lực quản lí Vùng di sản chung (mục 4 phần XI UNCLOS 1982).,. Ngày nay, vấn đề bảo vệ biển và giải quyết tranh chấp về biển luôn là nội dung quan trọng trong hợp tác quốc tế theo khuôn khổ của luật pháp, vì vậy sự tham gia và vai trò của các tổ chức quốc tế ngày càng quan trọng.

* Một số chủ thể khác

>> Xem thêm:  Eo biển quốc tế là gì ? Chế độ pháp lý eo biển quốc tế

Ngoài quốc gia và tổ chức quốc tế liên chính phủ, một số thực 'thể khác như dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết, vùng lãnh thổ cũng được coi là chủ thể của Luật biển quốc tể.

Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, do tình trạng pháp lý đặc biệt, các dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết ít khi trực tiếp tham gia các hoạt động khai thác, sử dụng biển. Tuy nhiên, theo quy định của Điều 305 UNCLOS 1982, dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết có thể trở thành thành thành viên của UNCLOS 1982. Ngoài ra, trong một số điều khoản khác của UNCLOS 1982 cũng quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ thể đặc biệt này. Chang hạn, Điều 140 khoản 1 UNCLOS 1982 quy định: “Các hoạt động trong Vùng được tiến hành, như đã được ghi nhận rõ ràng trong phần này, là vì lợi ích của toàn thể loài người, không phụ thuộc vào vị trí của các quốc gia, dù là quốc gia có biển hay không có biển, và có lưu ý đặc biệt đến các lợi ích và nhu cầu của quốc gia đang phát triển và của các dân tộc chưa giành được nền độc lập đầy đủ hay một chế độ tự tri khác được Liên hợp quốc thừa nhận theo đúng Nghị quyết 1514 (XV) và các nghị quyết tương ứng khác của Đại hội đồng”.

Ngoài các chủ thể thông thường của Luật biển quốc tế là quốc gia và tổ chức quốc tế, UNCLOS 1982 có đề cập đến khái niệm “nhân loại” (mankind) trong nguyên tắc “Vùng và tài nguyên trên Vùng là di sản chung của nhân loại”. Vậy, “nhân loại” có phải là chủ thể của Luật biển quốc tế hay không? Theo tư duy lô gíc, khái niệm này được hiểu theo hướng bao gồm tất cả các quốc gia trên bề mặt trái đất. Đó là một. cách nói khác đi về thế giới bao gồm cộng đồng các quốc gia, vì vậy không cần thiết cỏ sự phân biệt “nhân loại” như một chủ thể độc lập với quốc gia.

Mặc dù có sự tham gia nhất định vào quá trình khai thác, sừ dụng biển, chẳng hạn như thăm dò, khai thác Vùng di sản chung của loài người theo Điều 153 UNCLOS 1982, cá nhân, pháp nhân không phải là chủ thể của Luật biển quốc tế. Sự tham gia của các thực thể này không mang tính độc lập vì phụ thuộc vào ý chí cùa các quốc gia. UNCLOS 1982 quy định các thực thể này chỉ được tiến hành thăm dò, khai thác Vùng di sản chung nếu như được sự bảo trợ của quốc gia mà cá nhân, pháp nhân mang quốc tịch hoặc sự bảo trợ của quốc gia kiểm soát thực sự cá nhân, pháp nhân đó.

2.2 Đối tượng điều chỉnh của Luật biển quốc tế

Với tư cách là một ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc tể, Luật biển quốc tế điều chinh các quan hệ mang tính liên quốc gia. Đây là điểm phân biệt giữa Luật biển quốc tế với các ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc gia. Tuy nhiên, hoạt động trên biển là hoạt động đa dạng, phức tạp, liên quan đến nhiều đối tượng và nhằm phục vụ những lợi ích khác nhau. Vì vậy càn có sự phân biệt giữa đối tượng điều chỉnh của Luật biển quốc tế với đối tượng điều chỉnh của một ngành luật cũng có yếu tố quốc tế và liên quan đến không gian biển, đó là Luật hàng hải.

Luật biển quốc tế là một ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia và chủ thể khác phát sinh trong quá trình khai thác và sử dụng biển. Với tính chất này, các quy phạm của Luật biển quốc tế quy định quyền và nghĩa vụ của quốc gia hay các chủ thể khác, khi những chủ thể này tham gia các quan hệ về sử dụng, khai thác biển với tính chất là các vùng biển có quy chế pháp lý khác nhau. Đây là những quan hệ về xác lập chủ quyền và quyền chủ quyền trên các vùng biển, về hợp tác trong khai thác và sử dụng tài nguyên biển, về bảo vệ môi trường biển, về giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình khai thác và sử dụng biển...

Vởi tính chất là một ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc gia, đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật hàng hải là những quan hệ phát sinh trong quá trình sử dụng và khai thác tàu thuyền, khi các phương tiện này hoạt động trên các vùng biển, chẳng hạn như xác định địa vị pháp lý của tàu thuyền, giải quyết tranh chấp khi sử dụng tàu vào các hoạt động vận chuyển hành khách, hàng hóa, khi xảy ra sự cố hàng hải, an ninh trên biển...

Tuy nhiên, vì cùng là những ngành luật liên quan đến không gian biển nên Luật biển quốc tế và Luật hàng hải có mối quan hệ chặt chẽ. Một số quan hệ vừa có thể là đối tượng điều chỉnh cùa Luật biển quốc tế, vừa là đối tượng điều chỉnh của Luật hàng hải, chẳng hạn như họp tác quốc tế để bảo đảm an ninh trên biển và an toàn hàng hải, hợp tác quốc tể bảo vệ môi trường biển...

Đối tượng điều chỉnh của Luật biển quốc tế cũng khác với đối tượng điều chỉnh của các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật quốc tế. Cùng điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế nhưng nếu như Luật biển quốc tế điều chỉnh quan hệ phát sinh trong quá trình khai thác và sử dụng biển thì Luật hàng không quốc tế điều chỉnh quan hệ phát sinh trong quá trình khai thác và sử dụng vùng trời trong hoạt động hàng không dân dụng, Luật điều ước quốc tế điều chỉnh quan hệ phát sinh trong quá trình đàm phán, kí kết điều ước quốc tế...

>> Xem thêm:  Quần đảo là gì ? Quốc gia quần đảo là gì ? Vùng nước quần đảo được hiểu thế nào ?

2.3 Cơ chế hình thành Luật biển quốc tế

Trong lịch sử cũng như trong hiện tại và tương lai, biển luôn tỏ rõ vai trò là một trong số những yếu tố quan trọng để con người có thể giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu như vấn đề lương thực, năng lượng, nguyên liệu và hơn nữa là vấn đề môi trường sống của con người trên trái đất. Vì vậy, thiết lập trên biển một trật tự pháp lý quốc tế là yêu cầu của mọi thời đại. Quá trình hình thành và phát triển của Luật biển quốc tể đánh dấu những bước thay đổi cơ bản trong tư duy nhận thức của con người về môi trường tự nhiên gắn với sự phát triển chung của lịch sử nhân loại. Những thay đổi về tư duy đó tạo cho Luật biển quốc tế những bước ngoặt lớn, mang tính thời đại trong tiến trình phát triển chung của luật quốc tế.

Cũng như các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật quốc tế, các nguyên tắc và quy phạm của Luật biển quốc tế do các quốc gia và các chủ thể khác của Luật biển quốc tế thoà thuận xây dựng thông qua hai hình thức: thoả thuận công khai, minh bạch bằng việc kí kết các điều ước quốc tế hoặc thoả thuận ngầm định bằng việc thừa nhận các tập quán hình thành trong thực tiễn khai thác, sử dụng biển như là các quy phạm có giá trị pháp lý bắt buộc. Dù thông qua hình thức nào, cơ chế hình thành các nguyên tắc và quy phạm của Luật biển quốc tế phải dựa trên sự tự nguyện và bình đẳng của các chủ thể. Mọi sự lừa dối, ép buộc, bất bình đẳng trong quá trình hình thành các nguyên tắc và quy phạm Luật biển quốc tế đều làm cho các nguyên tắc và quy phạm đó trở nên vô hiệu và không có giá trị ràng buộc đối với các bên chủ thể.

Luật quốc tế được hình thành với hai nguồn cơ bản là điều ước quốc tế và tập quán quốc tế nhưng khác với các ngành luật khác và cũng là đặc thù của Luật biển quốc tế, đó là vai trò của tập quán trong cơ chế hình thành ngành luật này.

2.4 Cơ chế thực thi Luật biển quốc tế

Vấn đề thực thi Luật biển quốc tế cũng không nằm ngoài cơ chế chung của việc thực thi luật quốc tế. Theo UNCLOS 1982, các quốc gia có chủ quyền và quyền chủ quyền đối với các vùng biển nội thuỷ, lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tếthềm lục địa. Tại những vùng biển này, quốc gia ven biển có quyền thiết lập một trật tự pháp luật quốc gia phù hợp với quy định của UNCLOS 1982 để đảm bảo quyền và lợi ích của quốc gia trong tiến hành các hoạt động khai thác và sử dụng biển. Trên biển cả và Vùng, quốc gia phải tôn trọng các quy định của Luật biển quốc tế khi tham gia các hoạt động hợp tác trong khai thác và sử dụng biển.

Các nguyên tắc và quy phạm của Luật biển quốc tế được các chủ thể bảo đảm thi hành thông qua cơ chế tự cưỡng chế, bao gồm cưỡng chế riêng lẻ và cưỡng chế tập thể. Đây cũng là cơ chế thực thi chung của luật quốc tế. Luật biển quốc tế đề cao sự tự nguyện thực hiện của các chủ thể. Trong trường hợp có hành vi vi phạm ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ thể khác, các bên có thể thoả thuận thông qua các biện pháp hoà bình để giải quyết tranh chấp. Sự thiết lập và thẳm quyền của các cơ quan tài phán quốc tế cũng không phải là đương nhiên mà phải dựa trên ý chí của các bên tranh chấp.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Vùng nước quần đảo là gì ? Chế độ pháp lý vùng nước quần đảo

Câu hỏi thường gặp về luật biển quốc tế ?

Câu hỏi: Ý nghĩa của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 ?

Trả lời:

Công ước luật Biển năm 1982 được coi là hiến pháp của thế giới về các vấn đề biển và đại dương bởi đã xác định một cách toàn diện quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển cũng như quy chế pháp lý của vùng biển quốc tế và đáy biển quốc tế.

Câu hỏi: Nội dung cơ bản của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển ?

Trả lời:

Một số nội dung quan trọng đã được quy định trong Công ước Luật biển 1982 như sau:

- Quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền đầy đủ đối với vùng lãnh hải mà họ có quyền thiết lập với chiều rộng không quá 12 hải lý. Tuy vậy, chủ quyền  này không phải là tuyệt đối vì tàu thuyền nước ngoài được phép “đi qua vô hại” trong vùng lãnh hải. Tàu thuyền và máy bay được phép “đi quá cảnh” qua các dải hẹp, eo biển được sử dụng cho hàng hải quốc tế.

- Ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được xác định dựa trên các quy tắc áp dụng cho lãnh thổ đất liền. Quốc gia có biên giới với eo biển có thể điều tiết lưu thông hàng hải và các khía cạnh khác liên quan đến đi lại, lưu thông…

- Quốc gia quần đảo, được tạo thành bởi nhóm hoặc các nhóm đảo liên quan gần gũi và những vùng nước tiếp liền, sẽ có chủ quyền đối với vùng biển nằm trong các đường thẳng được vẽ bởi các điểm xa nhất của các đảo, vùng nước bên trong các đảo được gọi là vùng nước quần đảo, và các quốc gia này có thể thiết lập các đường đi lại cho tầu thuyền và hàng không, trong đó các quốc gia khác có thể được hưởng quyền qua lại các quần đảo bằng các tuyến đường biển đã định.

- Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế rộng tối đa 200 hải lý, đối với tài nguyên thiên nhiên và một số hoạt động kinh tế, và thực hiện quyền tài phán đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học và bảo vệ môi trường. Các quốc gia khác có quyền tự do hàng hải và tự do hàng không và tự do đặt dây cáp ngầm và đường ống.

 - Quốc gia không có biển hoặc bất lợi về địa lý có quyền tham gia trên cơ sở công bằng trong việc khai thác một phần thích hợp trong số phần dư dôi của các tài nguyên sống trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển trong cùng khu vực hoặc tiểu khu vực; các loài di cư như cá hoặc sinh vật biển được bảo vệ đặc biệt.

 - Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với thềm lục địa (khu vực đáy biển của quốc gia) trong việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa. Thềm lục địa có thể kéo dài ít nhất là 200 hải lý từ bờ biển, và có thể  kéo dài không quá 350 hải lý trong những điều kiện cụ thể. Quốc gia ven biển chia sẻ với cộng đồng quốc tế phần lợi tức thu được do khai thác tài nguyên từ bất cứ khu vực nào trong thềm lục địa của quốc gia đó khi nó kéo dài quá 200 hải lý. Ủy ban Ranh giới thềm lục địa (được thành lập theo Phụ lục II trong Công ước Luật biển 1982) sẽ có ý kiến đối với quốc gia liên quan về ranh giới ngoài của thềm lục địa khi nó kéo dài quá 200 hải lý.

 - Tất cả các quốc gia đều có quyền tự do truyền thống về hàng hải, bay qua, nghiên cứu khoa học và đánh cá trên vùng biển quốc tế. Các quốc gia có trách nhiệm hợp tác với nhau trong việc thông qua các biện pháp để quản lý và bảo tồn các tài nguyên sống trên biển.

  - Các quốc gia có chung biên giới với biển kín hoặc nửa kín cần hợp tác với nhau trong việc quản lý tài nguyên sống, có chính sách và hoạt động về môi trường cũng như nghiên cứu khoa học. Các quốc gia không có biển có quyền tiếp cận với biển và được tự do quá cảnh thông qua nước quá cảnh để ra biển. Các quốc gia phải ngăn chặn và kiểm soát ô nhiểm môi trường biển và phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra do sự vi phạm nghĩa vụ quốc tế của mình để kiềm chế những sự ô nhiễm đó.

 - Tất cả các nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phải có sự đồng ý của quốc gia ven biển. Tuy vậy, hầu như trong tất cả mọi trường hợp, quốc gia ven biển có trách nhiệm đồng ý với đề nghị của các quốc gia khác khi việc nghiên cứu được tiến hành vì mục đích hòa bình và đã thực hiện một số yêu cầu chi tiết. Các quốc gia cam kết tăng cường phát triển và chuyển giao kỹ thuật biển trong những điều kiện “ công bằng và hợp lý” có tính đến đầy đủ những lợi ích hợp pháp.

- Các quốc gia thành viên phải giải quyết bằng biện pháp hoà bình các tranh chấp liên quan đến việc hiểu và áp dụng Công ước. Các tranh chấp cần được trình lên Toà án quốc tế về luật biển (được thành lập theo Công ước), trình lên Tòa án công lý quốc tế hoặc trọng tài. Tòa án có quyền tài phán riêng biệt đối với những tranh chấp liên quan đến khai thác ở đáy biển.

Câu hỏi: So sánh Luật Biển quốc tế và Luật Biển Việt Nam thế nào ?

Trả lời:

Thứ nhất: Sau khi ký Công ước LHQ về Luật Biển 1982 (UNCLOS), năm 1994, Quốc hội đã phê chuẩn và đã chính thức trở thành thành viên Công ước. Việc nhanh chóng nội luật hóa, biến các quy định UNCLOS thành quy định cụ thể là yêu cầu tất yếu, bất kỳ quốc gia nào cũng  phải có nghĩa vụ thực hiện. Tất nhiên, mọi quy định của Luật Biển Việt Nam không được trái với nhưng quy định của Luật Biển quốc tế mà chỉ được phép cụ thể hoá các chế định, quy định của Luật Biển quốc tế.

Thứ hai là, trước Hội nghị Luật Biển LHQ lần 3 ký kết UNCLOS 1982, để đáp ứng nhu cầu của công tác quản lý Nhà nước đối với các hoạt động trên biển, Việt Nam đã có những văn bản quy phạm pháp luật về biển, nhưng chưa đầy đủ, toàn diện, chưa thích hợp để xử lý mối quan hệ ngày càng phát triển, các hoạt động kinh tế xã hội quốc phòng an ninh trên biển, đặc biệt trong tình hình tranh chấp phức tạp thì các văn bản đó chưa đáp ứng được. Do vậy không thể không có Luật Biển quốc gia để đáp ứng tất cả đòi hỏi đó và hơn nữa, điều đó cũng thể hiện trách nhiệm và tính nghiêm túc của Việt Nam với tư cách là thành viên chính thức của Công ước Luật Biển của LHQ năm 1982.

Thứ ba, xu hướng thế giới hiện nay là hướng ra biển và đại dương. Trên thực tế việc khai thác nguồn lợi đại dương, từ giao thông hàng hải, tài nguyên sinh vật và không sinh vật, khai thác dầu khí càng ngày càng phát triển, đưa đến lợi ích rất lớn với quốc gia, đặc biệt quốc gia ven biển như Việt Nam, một quốc gia ven biển có bờ biển dài, vùng biển rộng. Sự nghiệp phát triển kinh tế gắn với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trong tình hình hiện nay đòi hỏi Việt Nam phải vươn ra biển để khai thác và bảo vệ, quản lý biển là đòi hỏi tất yếu. Nếu không kịp thời có luật điều chỉnh ngay những hoạt động đó phù hợp luật pháp quốc tế, phù hợp quan hệ chính trị ngoại giao trong khu vực và các nước thì dẫn tới xung đột, mà nguy cơ xung đột không chỉ ảnh hưởng tới khu vực và thế giới, mà chính là lợi ích của đất nước và người dân.