Để bảo đảm bản án, quyết định của tòa án đã tuyên là hợp pháp và có căn cứ trong trường hợp bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật mới phát hiện được các tình tiết quan trọng làm thay đổi nội dung vụ án thì người có thẩm quyền của tòa án, viện kiểm sát có quyền yêu cầu tòa án có thẩm quyền xét lại bản án, quyết định đó. Hoạt động này được gọi là kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

1. Khái niệm kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là hoạt động của người có thẩm quyền của tòa án, viện kiểm sát trong việc yêu cầu tòa án có thẩm quyền xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật do phát hiện được tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án dân sự.

2. Người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Thủ tục tái thẩm bảo đảm cho bản án, quyết định đã tuyên hợp pháp và có căn cứ. Tuy vậy, việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục tái thẩm không được tuỳ tiện làm mất tính ổn định của bản án, quyết định. Hơn nữa, để nâng cao trách nhiệm của những người có thẩm quyền trong việc tổ chức kiểm sát, giám đốc việc xét xử thì chỉ những người đó mới có quyền kháng nghị yêu cầu tòa án xét lại bản án, quyết định theo thủ tục tái thẩm. Đương sự hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác chỉ có quyền phát hiện các tình tiết là căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm và thông báo bằng văn bản cho những người có quyền kháng nghị. Trong trường hợp phát hiện tình tiết là căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, viện kiểm sát, tòa án phải thông báo bằng vặn bản cho những người có quyền kháng nghị biết để họ xem xét việc kháng nghị.

Căn cứ vào Điều 354 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì những người sau đây có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm:

- Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Chánh án tòa án nhân dân cấp cao, viện trưởng viện kiểm sát cấp cạo có quyền kháng nghị bản án, quyết định đẩ có hiệu lực pháp luật của tòa án nhân dân cấp tỉnh, tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

Người đã kháng nghị bản án, quyêt định có hiệu lực pháp luật theo thủ tục tái thẩm có quyền yêu cầu hoãn thi hành án và có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị. Việc quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được tiến hành khi đã kháng nghị hoặc trong quyết định kháng nghị.

3. Đối tượng kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Đối tượng kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án trước đó tòa án và các đương sự không thể biết được khi giải quyết vụ án dân sự. Giống như ở thủ tục giám đốc thẩm, đối tượng kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bao gồm tất cả các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tuy vậy, khác với đối tượng kháng nghị giám đốc thẩm, những bản án, quyết định là đối tượng kháng nghị theo thủ tục tái thẩm trong quá trình giải quyết vụ án "dân sự, tòa án có thể không có sai lầm, vi phạm pháp luật. Nếu không phát hiện ra được những tình tiết quan trọng của vụ án dân sự mà tòa án, đương sự đã không thể biết được khi giải quyết vụ án và không xác định được mối liên quan của nó với việc ra bản án, quyết định thì những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật này vẫn được coi là đúng đắn.

4. Căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Để tiến hành kháng nghị, người có thẩm quyền kháng nghị phải dựa ttên những căn cứ nhất định do pháp luật quy định. Những căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm được pháp luật quy định dựa trên cơ sở mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án dân sự mà trước đó tòa án và đương sự đã không thể biết được.

Các căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẳm hiện được quy định tại Điều 352 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Theo đó, bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau:

Một là mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án.

Khi xác định những tình tiết nào mới được phát hiện là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm thì phải xét tới các vấn đề sau:

- Tinh tiết mới được phát hiện phải là tình tiết đã có vào lúc tòa án giải quyết vụ án mà tòa án và đương sự đã không thể biết được. Những tình tiết mới phát sinh sau khi tòa án giải quyết vụ án thì không phải là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, có chăng chỉ có thể là căn cử để khởi kiện một vụ án khác.

- Tình tiết tiết mới được phát hiện phải là những tình tiết quan trọng, liên quan đến vụ án, làm thay đổi hẳn nội dung vụ án, làm cho bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không hợp pháp, không có căn cứ. Đối với những tình tiết tuy mới được phát hiện nhưng không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật giữa các đương sự, không có mối quan hệ nhân quả đối với quyết định của tòa án tái thẩm thì cũng không là căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

- Những tình tiết mới được phát hiện làm căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm phải là những tình tiết tòa án muốn xác định được phải qua quá trình xét xử lại. Những tình tiết đã có sẵn trong hồ sơ vụ ần, tòa án không đánh giá sử dụng hoặc những tình tiết đã có vào lúc tòa án giải quyết vụ án nhung do sai lầm nên tòa án không phát hiện được, không yêu cầu đương sự cung cấp thì không được coi là tình tiết mới.

Hai là có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch rõ ràng không đúng sự thật hoặc có giả mạo bằng chứng.

Bằng chứng, kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch là những phương tiện quan trọng được tòa án sử dụng để xác định sự thật của vụ án. Trong nhiều trường hợp, nó máng ’ tính chất quyết định đối với việc giải quyết vụ việc dân sự. Vì vậy, khi có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch rõ ràng không đúng sự thật hoặc có giả mạo bằng chứng thì phải kháng nghị xét lại bản án, quyết định theo thủ tục tái thẩm.

Ba là thẩm phán, hộidhẩm nhân dân, kiểm sát viên cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố tình kết luận trái pháp luật.

Thẩm phán, hội thẩm nhân dân và kiểm sát viên là những người có trách nhiệm trong việc giải quyết vụ án. Nếu họ đã cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố tình kết luận trái pháp luật thì vụ án sẽ được giải quyết không đúng với bản chất của nó. Vì vậy, nếu đã phát hiện được thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố tình két luận trái pháp luật thì phải kháng nghị xét lại bản án, quyết định theo thủ tục tái thẩm. Tuy vậy, trên thực tể nhiều người có thể không đồng ý với quyết định của tòa án, họ có thể vu khống người này trong việc giải quyết vụ án. Do đó, khi xác định “thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố tình kết luận trái pháp luật” là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, người có thẩm quyền kháng nghị cần thận trọng xem xét thật kĩ trưởc khi kháng nghị. Chỉ nên kháng nghị khi các hành vi lạm quyền trên của thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên đã được xác định trong bản án, quyết định của tòa án hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật và là nguyên nhân cho việc giải quyết vụ án không đúng.

Bốn là bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà tòa án đã căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị huỷ.

Một sự kiện pháp lí nếu đã được xác định ưong bản án, quyết định của tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm

quyền thì khi giải quyết vụ án, tòa án có thể căn cứ vào đó để giải quyết vụ án mà không cần phải xác định lại. Tuy vậy, nếu việc xác định sự kiện này của tòa án hay cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước đó có sai lầm nên bản án, quyết định của tòa án đã dựa vào 'Ị để giải quyết vụ án đã bị huỷ thì phải kháng nghị để xét lại bản án, quyết định của tòa án vì nó đã giải quyết vụ án không đúng với bản chất của nó.

Để xác định căn cứ kháng nghị, người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm có thể dựa vào những tin tức nhân được, của các đương sự, các công dân, các tổ chức kinh tế, xã hội, các cơ quan nhà nước v.v. và cả phản ánh của tòa án đã giải quyết vụ án. Trường hợp đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phát hiện được tình tiết mới của vụ án thì thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục tái thẩm. Trường hợp viện kiểm sát, tòa án phát hiện được tình tiết mới của vụ án thì cũng phải thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị. Hậu quả của việc kháng nghị sẽ dẫn đến việc tòa án có thẩm quyền xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và tạm đình chỉ việc thi hành án. Vì vậy, người có thẩm quyền kháng nghị phải xác minh kĩ trước khi kháng nghị. Đối với bản án, quyết định nếu kháng nghị cũng không sửa chữa được thì không nên kháng nghị.

Trường hợp viện kiểm sát muốn nghiên cứu hồ sơ vụ án để xem xét việc kháng nghị thì việc mượn hồ sơ, nghiên cứu hồ sơ của viện kiểm sát ở thủ tục này cũng được tiến hành như ở thủ tục giám đốc thẩm.

5. Thời hạn kháng nghị, thay đổi, bổ sung và rút kháng nghị

Để sớm xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, bảo đàm cho bản án, quyết định của tòa án phù hợp với thực tế khách quan thì phải sớm kháng nghị khi đã phát hiện được căn cứ để kháng nghị. Từ đó, Điều 355 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 01 năm kể từ ngày phát hiện được tình tiết là căn cứ kháng nghị.

Người đã kháng nghị tái thẩm có quyền thay đổi, bổ sung quyết định kháng nghị nếu chưa hết thời hạn kháng nghị quy định tại Điều 355 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Người đã kháng nghị có quyền rút một phần hoặc toàn bộ quyết định kháng nghị trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa tái thẩm (Điều 335, Điều 357 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).

6. Hình thức kháng nghị và gửi quyết định kháng nghị

Việc kháng nghị theo thủ tục tái thẩm cũng được tiến hành bằng vãn bản. Quyết định kháng nghị tái thẩm phải được gửi ngay cho tòa án ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, các đương sự, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và những người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung kháng nghị. Trong trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc chánh án tòa án nhân dân cấp cao kháng nghị thì quyết định kháng nghị cùng hồ sơ vụ án phải được gửi ngay cho viện kiểm sát nhân dân cùng cấp. Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án; hết thời hạn đó, viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ vụ án cho tòa án có thẩm quyền tái thẩm. Trong trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cấp cao kháng nghị thì quyết định kháng nghị phải được gửi ngay cho tòa án có thẩm quyền tái thẩm.

7. Hoãn và tạm đình chỉ thi hành án

Trong trường hợp cần phải hoãn việc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xem xét việc kháng nghị thì người có quyên kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền hoãn thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xem xét việc kháng nghị. Trong trường hợp cần phải tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định bị kháng nghị để tránh hậu quà có thể xảy ra không thể khắc phục được, người đã kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cũng có quyền tạm đình chỉ việc thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có quyết định tái thẩm. Tuy nhiên, việc tạm đình chỉ thi hành án chỉ được thực hiện khi đã (kháng nghị hoặc trong quyết định kháng nghị.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, tố tụng dân sự về thủ tục xét xử theo thủ tục tái thẩm vụ án dân sự cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê