1. Quy định chung về xét xử tái thẩm

Những người có thẩm quyển kháng nghị tái thẩm:

1) Về hình sự là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp quân khu, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Chánh án Toà án quân sự trung ương, Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh và Chánh án Toà án quân sự cấp quân khu;

2) Về dân sự, quyền kháng nghị thuộc Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án toà án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh.

Việc kháng nghị theo thủ tục tái thẩm phải được tiến hành trong thời gian luật định. Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, nếu kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án thì thời hạn là 01 năm kể từ ngày nhận được tin báo về tình tiết mới được phát hiện và trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Nhưng việc kháng nghị không bị giới hạn về thời hạn trong trường hợp kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án cả khi người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ (Xt. Tái thẩm).

2. Khái niệm tái thẩm dân sự

Trên thực tế, có nhiều trường hợp sau khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mới phát hiện được những tình tiết có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết vụ án nhưng lúc ra bản án, quyết định, các đương sự và tòa án đã không thể biết được. Do mới phát hiện được những tình tiết của vụ án mà trước đó các đương sự và tọà án đã không biết được làm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án trở nên không phù hợp với thực tế khách quan của vụ án, không đúng đắn. Đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật này vẫn cần phải được xét lại. Khi phát hiện được những tình tiết mới, người có thẩm quyền của tòa án cấp trên, viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị yêu cầu tòa án có thẩm quyền xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án. Thủ tục xét lại bản án,, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trong trường hợp này được gọi là thủ tục tái thẩm.

Tái thẩm dân sự là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án bị kháng nghị do mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà tòa án và các đưomg sự đã không biết được khi tòa án giải quyết vụ án.

Tái thẩm cũng là thủ tục đặc biệt của tố tụng dân sự như thủ tục giám đốc thẩm. Trong đó, tòa án có thẩm quyền kiểm tta tính hợp pháp của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi có kháng nghị. Tuy vậy, việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục này là dựa ttên cơ sở mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án chứ không phải ttên cơ sở phát hiện được sai lầm, vi phạm pháp luật của tòa án trong việc giải quyết vụ án. Tính chất của tái thẩm dân sự được quy định tại Điều 351 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Thủ tục tái thẩm lần đầu được quy định trong Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1981. Sau đó được quy định tại Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1992, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004. Hiện nay, thủ tục tái thẩm được quy định tại Chương XXI Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẵn thi hành Bộ luật này.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn khởi kiện vụ án dân sự, đại diện tranh tụng tại Toà án

3. Căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm:

Pháp luật hiện nay quy định có bốn căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là:

- Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án. “Tình tiết quan trọng” trong căn cứ này phải là những tình tiết làm thay đổi nội dung của vụ án. Ví dụ: trong quá trình giải quyết vụ án chia di sản thừa kế các đương sự không biết được người để lại di sản thừa kế đã lập di chúc để lại toàn bộ khối di sản cho người con út, nên vụ án đã được giải quyết theo pháp luật. Mấy năm sau người con út mới phát hiện ra di chúc. Việc phát hiện ra di chúc là tình tiết mới quan trọng làm thay đổi bản chất của vụ án. Bản án nếu so với di chúc thì khác nhiều và kết luận của bản án đã làm thiệt hại đến lợi ích của thừa kế được chỉ định trong di chúc. Đây là tình tiết quan trọng để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

- Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ.

- Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật. Cần phân biệt căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm “có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật” với căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm “…cố ý kết luận trái pháp luật”. “Sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật” và “cố ý kết luận trái pháp luật” đều là áp dụng pháp luật không đúng, nhưng căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là xuất phát từ việc nhận thức của Thẩm phán về việc áp dụng pháp luật. Thẩm phán cho rằng mình áp dụng pháp luật là đúng nhưng thực tế là không đúng. Còn căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là Thẩm phán biết rõ việc kết luận của mình là không đúng pháp luật nhưng vẫn cứ kết luận. Đây là những trường hợp hồ sơ đã đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, các tình tiết trong vụ án và pháp luật rõ ràng, nhưng Thẩm phán lại xử không đúng pháp luật.

- Bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ. Bộ luật tố tụng dân sự quy định, đương sự hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền phát hiện tình tiết mới của vụ án và thông báo bằng văn bản cho những người có quyền kháng nghị. Trong trường hợp phát hiện tình tiết mới của vụ án, Viện kiểm sát, Toà án phải thông báo bằng văn bản cho những người có quyền kháng nghị.

4. Chủ thể có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Tương tự như thủ tục giám đốc thẩm, Bộ luật tố tụng dân sự chỉ giao thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm cho Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, cụ thể như sau:

  • Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  • Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

Vậy nên ngoài những chủ thể trên thì không một chủ thể nào khác có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm. Nếu các chủ thể khác phát hiện tình tiết mới của vụ án thì có quyền thông báo bằng văn bản cho các chủ thể có thẩm quyền trên để kháng nghị.

>> Xem thêm:  Xã hội hoá thi hành án dân sự là gì ? Nguyên tắc của luật thi hành án dân sự

Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 01 năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

Khi xác định thời hạn kháng nghị cần đảm bảo hai điều kiện chính, đó là:

- Tạo điều kiện cho đương sự có thể bảo vệ quyền, lợi ích của mình.

- Bảo đảm tính ổn định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Thời hạn kháng nghị trên đã đảm bảo hài hòa được hai điều kiện trên. Nên chăng ghi nhận thêm thời hạn kéo dài kháng nghị thì điều luật sẽ trở nên đảm bảo hơn quyền tiếp cận công lý của công dân.

5. Ý nghĩa tái thẩm dân sự

Tái thẩm dân sự có ý nghĩa quan trọng đối với cả việc giải quyết vụ án dân sự của tòa án và việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục tái thẩm giúp cho tòa án khắc phục được những thiếu sót trong những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không phụ thuộc vào thời gian bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và được thi hành từ bao giờ. Vì vậy, tái thẩm dân sự cũng bảo đảm sự tuân thủ pháp luật trong công tác xét xử của tòa án.

Việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục tái thẩm bảo đảm cho bản án, quyết định của tòa án có căn cứ và hợp pháp, từ đó có tác dụng bảo vệ được các quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án.

Bên cạnh đó, hoạt động tái thẩm góp phần giúp các Thẩm phán chủ động hơn trong việc thu thập, xác mình chứng cứ. Các tình tiết mới tuy là không biết hoặc không thể biết tại thời điểm giải quyết vụ án nhưng nó đã xuất hiện trước đó, trước thời điểm Thẩm phán ra bản án, quyết định. Chính vì vậy, đòi hỏi Thẩm phán và những người có thẩm quyền liên quan cần chú trọng hơn trong việc phát hiện các tình tiết có liên quan đến vụ án, nhằm đảm bảo giải quyết vụ án đúng pháp luật.

>> Xem thêm:  Quy định mới về kháng nghị theo thủ tục tái thẩm ? Xét xử theo thủ tục tái thẩm vụ án hình sự ?

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, tố tụng dân sự về thủ tục xét xử tái thẩm vụ án dân sự cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Cản trở hoạt động tố tụng dân sự là gì ? Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng như thế nào ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Xét xử tái thẩm trong dân sự là gì?

Trả lời:

Tái thẩm dân sự là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án bị kháng nghị do mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà tòa án và các đưomg sự đã không biết được khi tòa án giải quyết vụ án.

 

Câu hỏi: Ai có quyền yêu cầu tái thẩm?

Trả lời:

Bộ luật tố tụng dân sự chỉ giao thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm cho Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân cấp  cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao.

Câu hỏi: Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là bao lâu?

Trả lời:

Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 01 năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.