1. Tái thẩm là gì?

Tại Điều 397 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về bản chất của tái thẩm như sau:

Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó.”

Về đối tượng của tái thẩm: Đó chính là các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện ra những tình tiết mới. Từ đó, ta thấy đối tượng của thủ tục tái thẩm là các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật chứ không phải là vụ án như ở xét xử sơ thẩm, phúc thẩm. Tòa án có thẩm quyền tái thẩm không xem xét, đánh giá và kết luận lại những các vấn đề về nội dung của vụ án. Những bản án, quyết định đã có hiệu lực chính là những bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm hoặc là những bản án đã qua đủ hai cấp xét xử sở thẩm, phúc thẩm. Những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật là đối tượng của tái thẩm khi những bản án, quyết định đó bị kháng nghị vì phát hiện ra những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết khi ra bản án hoặc quyết định đó.

Mục đích của tái thẩm đó chính là xem xét tình tiết mới được phát hiện làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định đã có hiệu lực bị kháng nghị. Tòa án xem xét tình tiết mới đó có ý nghĩa như thế nào đối với vụ án, có làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hay quyết định bị kháng nghị hay không. Đây chính là thủ tục xét lại tính có căn cứ của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Nếu bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án không có căn cứ thì sẽ bị hủy; khôi phục lại trình tự tố tụng để giải quyết lại vụ án hình sự nhằm khắc phục những sai lầm của Tòa án trong việc xác định sự thật của vụ án, đảm bảo tính có căn cứ của bản, quyết định của Tòa án.

Cơ sở phát sinh thủ tục tái thẩm đó là kháng nghị tái thẩm. Đó chính là kháng nghị của những người tiến hành tố tụng của người có thẩm quyền. Hiện nay tại Bộ luật Tố tụng hình sự quy định người có thẩm quyền kháng nghị chính là Viện trưởng Viện Kiểm sát.

2. Thủ tục tái thẩm có ý nghĩa gì?

Thủ tục tái thẩm là cơ chế đảm bảo, nâng cao trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân, đảm bảo thực thi pháp luật một cách nghiêm minh, công bằng, bảo vệ triệt để các quyền cơ bản của công dân

Chế định tái thẩm góp phần bảo đảm hiệu quả hoạt động và tính độc lập của các cơ quan tư pháp, từ đó bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.

Đảm bảo cho vụ án được giải quyết đúng đắn có căn cứ, đảm bảo cho pháp luật được áp dụng một cách đúng đắn và thống nhất trong hoạt động xét xử.

Nhằm sửa chữa những sai sót trong quá trình điều tra, xét xử tội phạm.

Qua thủ tục tái phẩm thì hiệu lực bắt buộc của các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật có những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của vụ án mới có thể được hủy bỏ. Qua đó khôi phục trình tự tố tụng đối với vụ án, để có thể xác định sự thật của vụ án.

Các quyết định của Tòa án có thẩm quyền tái thẩm hoặc là cơ sở pháp lý để khẳng định tính có căn cứ của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật ; hoặc là cơ sở hủy bỏ hiệu lực pháp luật của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, từ đó chấm dứt tố tụng đối với vụ án, hoặc khôi phục lại trình tự tố tụng đối với vụ án (quyết định hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại, xét xử lại).

3. Phân biệt tái thẩm và giám đốc thẩm

Về tính chất:

+ Thủ tục giám đốc thẩm: bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có vi phạm nghiêm trọng trong thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, sự sai sót này có thể xảy ra ở bất cứ giai đoạn tố tụng nào

+ Thủ tục tái thẩm: là thủ tục xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị khi phát hiện những tình tiết mới, những tình tiết mới này làm thay đổi nội dung cơ bản của bản án, quyết định của Tòa án.

Về căn cứ kháng nghị:

+ Giám đốc thẩm:  Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:

Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;

Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật;

Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.

+ Tái thẩm: Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:

Có căn cứ chứng minh lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, lời dịch của người phiên dịch, bản dịch thuật có những điểm quan trọng không đúng sự thật;

Có tình tiết mà Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm do không biết được mà kết luận không đúng làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án;

Vật chứng, biên bản về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, biên bản hoạt động tố tụng khác hoặc những chứng cứ, tài liệu, đồ vật khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật;

Những tình tiết khác làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án.

4.  Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

- Có căn cứ chứng minh lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, lời dịch của người phiên dịch, bản dịch thuật có những điểm quan trọng không đúng sự thật. Trên thực tế, có rất nhiều vụ án có sự tham gia của người làm chứng, người giám định, người phiên dịch,… Tuy nhiên, không phải trong trường hợp nào họ cũng thực hiện đúng nghĩa vụ, nhiệm vụ của mình, mà vì một lý do nào đó, họ đã cung cấp lời chứng, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, lời dịch, bản dịch không đúng sự thật mà từ những lời, kết luận, lời dịch đó dẫn đến hội đồng xét xử không đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đây chính là căn cứ để thực hiện kháng nghị tái thẩm. 

- Có tình tiết mà Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm do không biết được mà kết luận không đúng làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án. Trong trường hợp này, các điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán vì lý do không biết được các tình tiết đó, dẫn đến việc kết luận sai cho bản án, quyết định của Tòa án. Trường hợp các điều tra viên, kiểm tra viên, thẩm phán, hội thẩm biết về những tình tiết đó mà vẫn cố tình làm sai dẫn đến bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng với sự thật khách quan của vụ án thì không là căn cứ để tái thẩm vụ án hình sự.

- Vật chứng, biên bản về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, biên bản hoạt động tố tụng khác hoặc những chứng cứ, tài liệu, đồ vật khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật. Đây là căn cứ do người tham gia tố tụng và những người khác gây ra.  Những vật chứng, biên bản, chứng cứ, tài liệu,… giả mạo khiến cho cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án thực hiện điều tra, truy tố và xét xử dựa trên các căn cứ mà nó không đúng với sự thật khách quan, kéo theo việc ra quyết định, bản án sai.

- Những tình tiết khác làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án.

5. Quy định thông báo và xác minh những tình tiết mới được phát hiện

Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định:

1. Người bị kết án, cơ quan, tổ chức và mọi công dân có quyền phát hiện những tình tiết mới của vụ án và báo cho Viện kiểm sát hoặc Tòa án. Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm ra quyết định xác minh những tình tiết đó.

2. Nếu có một trong những căn cứ quy định tại Điều 291 của Bộ luật này thì Viện trưởng Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị tái thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền. Nếu không có căn cứ thì Viện trưởng Viện kiểm sát trả lời cho cơ quan, tổ chức hoặc người đã phát hiện biết rõ lý do của việc không kháng nghị.

Điều 399 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có những sửa đổi, bổ sung nâng cao trách nhiệm của Tòa án, Viện kiểm sát và thủ tục trong thông báo về tình tiết mới cũng như thủ tục tố tụng tạo cơ sở pháp lý cho Viện kiểm sát trong xác minh tình tiết mới dùng làm căn cứ tái thẩm. Cụ thể là:

- Người bị kết án, cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân có quyền phát hiện tình tiết mới của vụ án và thông báo kèm theo các tài liệu liên quan cho Viện kiểm sát hoặc Tòa án. Trường hợp Tòa án nhận được thông báo hoặc tự mình phát hiện tình tiết mới của vụ án thì phải thông báo ngay bằng văn bản kèm theo các tài liệu liên quan cho Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm. Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm ra quyết định xác minh những tình tiết đó.

- Viện kiểm sát phải xác minh những tình tiết mới; khi xét thấy cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm yêu cầu Cơ quan điều tra có thẩm quyền xác minh tình tiết mới của vụ án và chuyển kết quả xác minh cho Viện kiểm sát.

Khi tiến hành xác minh tình tiết mới của vụ án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra có quyền áp dụng các biện pháp điều tra theo quy định của Bộ luật này. Điều này có nghĩa rằng Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra có thẩm quyền có quyền áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác minh tình tiết mới, bảo đảm cho việc kháng nghị chính xác, khách quan.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)