Luật sư tư vấn:

Vấn đề bạn quan tâm căn cứ và  Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Văn bản hợp nhất luật sở hữu trí tuệ số 07/VBHN-VPQH năm 2019) và Nghị định số 22/2018/NĐ-CP về hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan: 

 

1. Các quyền tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm

Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm có các quyền nhân thân và các quyền tài sản đối với tác phẩm ở mức độ khác hơn so với quyền của tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm.

Quyền nhân thân của tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm bao gồm:

-    Quyền đặt tên cho tác phẩm, đặt theo nghĩa đen hoặc theo nghĩa bóng hoặc vô đề (không đề);

-    Quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm (một bút danh hoặc nhiều bút danh);

-    Tác giả được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, phổ biến, sử dụng;

-   Tác giả có quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm do mình sáng tạo ra;

-   Tác giả có quyền cho phép hoặc không cho phép người khác sửa đổi nội dung tác phẩm.

Các quyền nhân thân kể trên luôn gắn liền với tác giả và không thể chuyển dịch cho người khác. Cho dù tác giả đồng thời hoặc không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm thì những quyền nhân thân này gắn liền với tác giả trong suốt cuộc đời và vĩnh viễn sau khi tác giả qua đời. Nhưng quyền nhân thân của tác giả theo tính chất không thể chuyển dịch cho người khác luôn luôn là sự đảm bảo của pháp luật về tính toàn vẹn của tác phẩm. Xét về mặt văn hóa, lịch sữ khi tác phim của tác giả được bẳo vệ tính toàn vẹn, không bị sửa chũa không bị làm cho sai lệch nội dung của nó thì giá trị nội dung, tư tưởng của tác giả những tác phẩm được truyền lại cho các thế hệ mai sau và không hẳn là không có giá ữị gì đối với thế hệ đó. Đặc biệt đối với những tác phẩm của giá ưị về văn học, nghệ thuật không những đối với thời đại của tác giả mà còn có ý nghĩa văn hóa, nghệ thuật, lịch sử, khoa học hữu ích của các thế hệ sau đó. Thực tế đã minh chứng trong kho tàng văn hóa, lịch sử, văn học, nghệ thuật của các thế hệ cha ông người Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị giáo dục không chỉ về mặt lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, khoa học mà còn chứa đựng tính nhân văn sâu sắc. Như Nguyễn Du với "Truyện Kiểu", Nguyễn Trãi với "Đại cáo bình Ngô", Hồ Chí Minh với "Nhật ký trong tù" và thơ văn của Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm. Mỗi khi nhắc đến những nhà thơ, nhà văn, nhà văn hóa trên, mỗi người trong chúng ta đều nhận rõ họ có những tác phẩm văn học, nghệ thuật, chính trị tồn tại trong tâm khảm và gắn với mỗi suy nghĩ, hành động và có ích trong tu dưỡng, hành động của mỗi cá nhần, tập
thể trong xã hội hiện đại, cho dù điều kiện xã hội và hoàn cảnh sống của cá nhân trong xã hội hiện đại đã khác xa với thời đại của các bậc tiền bối kể trên.

 

2. Quyền của tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả

Quyền tài sản của tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm bị hạn chế hơn so với quyền tài sản của tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm ở chỗ: Không có quyền xuất bản, tái bản, tnỉng bày, ưiển lãm, biểu diễn, phát thanh, truyền hình, ghi âm, ghi hình, chụp ảnh; không có quyền cho người khác dịch hay không được dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, cho thuê. Những quyền liên quan tới kinh tế nói trên thuộc về chủ sở hữu tác phẩm (không phải là người thừa kế quyền tác giả) không đồng thời là tác giả.

Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm có các quyền tài sản đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra,bao gồm:

-   Được hưởng nhuận bút;

-   Được hưởng thù lao tác phẩm được sử dụng;

-    Nhận giải thưởng đối với tác phẩm mà mình là tác giả, trừ trường hợp tác phẩm không được Nhà nước bảo hộ.

Những quy định trên cho thấy quyền của tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm đối với quyền nhân thân không thể chuyển dịch được luôn gắn với tác giả và cũng là quyền nhân thân của tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm. Nhưng về quyền tài sản của tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm bị hạn chế và luôn ở thế "bị động" do tác giả không được thực hiện quyền xuất bản, tái bản, trưng bày, triển lãm hoặc cho dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể để có được những lợi ích kinh tế theo quyền định đoạt ý chí của mình. Sự hạn chế về những lợi ích kinh tế của tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm do các quan hệ phụ thuộc của tác giả đã xác lập theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật khi tác giả sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học chi phối và phổ biến trong các quan hệ: Sáng tạo theo nhiệm vụ được cơ quan, tổ chức giao, được cấp kinh phí để sáng tạo, được hưởng lương để sáng tạo, hợp đồng sáng tạo thuê.

 

3. Quyền của chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả

Quyền công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến tác phẩm thuộc quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp tác giả và chủ sở hữu có thỏa thuận khác. Cho hoặc không cho người khác sử dụng tác phẩm thuộc quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp giữa tác giả và chủ sở hữu tác phẩm có thỏa thuận khác.

Những quyền nhân thân của chủ sở hữu tác phẩm với quyền nhân thân của tác giả có mối quan hệ bù trừ cho nhau. Nếu các quyền nhân thân theo tính chất không thể chuyển dịch luôn luôn thuộc về tác giả thì chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả không thể có quyền đó: Quyền đứng tên tác phẩm; quyền đặt tên tác phẩm; quyền cho hoặc không cho người khác sửa đổi nội dung tác phẩm, quyền nhận những danh hiệu và các giải thưởng văn học gắn liên với tên của tác giả về nhân thân như giải thưởng Nobel, giải thường Hồ Chí Minh về văn học. Ngược lại, những quyền nhân thân theo tính chất chuyển dịch được thuộc về chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả thì tác giả không có quyền sở hữu đối với các quyền đó. Những quyền nhân thân thuộc về chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả là những quyền nhân thân có mối liên hệ trực tiếp với tài sản. Chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả thực hiện những quyền nhân thân với tư cách là chủ sở hữu tác phẩm. Do có những đặc điểm trên, quyền của tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm tồn tại cùng tác phẩm nhưng "ở trạng thái tĩnh".

Do quan hệ phụ thuộc vào các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, của chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả đã tạo ra tính chất không đầy đủ trong mối quan hệ của hai loại chủ thể này khi thực hiện các quyền nhân thân và các quyền tài sản liên quan đến tác phẩm, công trình. Tính chất không đầy đủ này là "tiêu chí hạt nhân" để phân biệt giữa quyền sở hữu trí tuệ với quyền sở hữu vật chất khác hoặc các quyền tài sản khác ngoài quyền sở hữu trí tuệ. Như vậy đặc điểm ngang giá trong quan hệ về quyền tác giả các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học luôn phụ thuộc vào những quy định của pháp luật có hiệu lực điều chỉnh nó. Vi những đặc tính trên, việc chuyển giao quyền tác giả không làm triệt tiêu hoàn toàn các quyền nhân thân của tác giả.

 

4. Các quyền của đồng tác giả

4.1 Các quyền của đồng tác giả đồng thời là chủ sở hữu của tác phẩm.

Các đồng tác giả là chủ sở hữu chung đối với tác phẩm. Với tư cách là đồng tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm, do vậy đồng tác giả được hưởng những quyền nhân thân và các quyền tài sản đối với tác phẩm do họ cùng sáng tạo.

 

4.2 Các quyền của đồng tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm.

Đồng tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm phát sinh trong trường hợp các tác giả cùng sáng tạo ra tác phẩm, công trình theo nhiệm vụ được giao hoặc đồng tác giả cùng sáng tạo theo hợp đồng sáng tạo thuê. Đối với đồng tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm cùng có quyền nhân thân của một tác giả đầy đủ:

- Cùng có quyền đặt tên cho tác phẩm;

- Cùng có quyền đồng thời đồng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm;

- Cùng được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, phổ biến, sử dụng;

- Cùng có quyền bình đẳng trong việc công bố, phổ biến hoặc cùng có quyền thỏa thuận trong việc cho người công bố, phổ biến tác phẩm của đồng tác giả;

-  Có quyền thỏa thuận trong việc cho hoặc không cho người khấc sử dụng tác phẩm của đồng tác giả;

- Cùng có quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm, cho phép hoặc không cho phép người khác sửa đổi nội dung tác phẩm của đồng tác giả.

Các quyền tài sản thì các đông tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm cùng được hưởng chung nhuận bút, khoản tiền thù lao khi tác phẩm của đồng tác giả được sử dụng; cùng được hưởng chung lợi ích vật chất từ việc cùng thỏa thuận cho người khác sử dụng tác phẩm của đồng tác giả dưới các hình thức: Xuất bản, tái bản, trưng bày, triển lãm, biểu diễn, phát thanh, truyền hình, ghi hình, ghi âm, chụp ảnh. Đồng tác giả cùng thỏa thuận trong việc cho người khác dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, cho thuê tác phẩm đồng tác giả. Ngoài những quyền trên, đồng tấc giả của tác phẩm cùng nhận giải thưởng đối với tác phẩm do họ cùng sáng tạo, trừ trường hợp tác phẩm không được Nhà nước bảo hộ.

+ Đối với quyền của đồng tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm, các đồng tác giả có quyền cùng thỏa thuận đặt tên cho tác phẩm, cùng nhau đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; cùng được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm của đồng tác giả được công bố, phổ biến, sử dụng; cùng có quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm của đồng tác giả.

Ngoài các quyền nhân thân trên, đồng tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm có các quyền tài sản đối với tác phẩm mà họ là đồng tác giả:

-   Cùng được hưởng chung nhuận bút;

-   Cùng được hưởng khoản thù lao khi tác phẩm được sử dụng;

-   Cùng được hưởng giải thưởng đối với tác phẩm mà họ là đông tác, trừ trường hợp tác phẩm không được Nhà nước bảo hộ.

Về nội dung sáng tạo, đồng tác giả phải cùng thể hiện ý chí trong việc sáng tạo ra tác phẩm, công trình. Tác phẩm đồng tác giả sáng tạo được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định và có tính nguyên gốc. Nội dung của tác phẩm thể hiện được mục đích và sự thống nhất ý chí của đồng tác giả trong việc sáng tạo ra tác phẩm, công trình. Tuy nhiên, một tác phẩm do đồng tác giả sáng tạo gồm các phần riêng biệt có thể tách ra để sử dụng độc lập thì mỗi người có quyền sử dụng riêng biệt phần của mình và được hưởng quyền tác giả đối với phần đó. Vấn đề đặt ra ở đây là, khi một tác phẩm của đồng tác giả là một tác phẩm hoàn chỉnh tồn tại xét cả về nội dung và hình thức nhưng mỗi tác giả lại tách riêng phần của mình để sử dụng riêng hoặc chuyển giao phần của mình cho người khác sử dụng, có ảnh hưởng gì tới quyền của các đồng tác giả khác không?

Tác phẩm đồng tác giả với những trường hợp mỗi đồng tác giả với tư cách độc lập có quyền sử dụng riêng biệt phần của mình và được hưởng quyền tác giả đối với phần đó. Quy định trên không làm triệt tiêu quan hệ đồng tác giả, kể cả trong trường hợp các đồng tác giả tự tách phần riêng biệt của mình.

Bởi vì, tác phẩm đồng tác giả là một tác phẩm thống nhất, phần riêng biệt của mỗi tác giả sáng tạo đã hợp thành nội dung của tác phẩm đồng tác giả. Việc tách ra một phần riêng biệt, để sử dụng độc lập của mỗi tác giả không ảnh hưởng đến tác phẩm đồng tác giả. Vì phần riêng biệt của mỗi tác giả không phải là tác phẩm đồng tác giả. Như vậy, tác giả có quyền tách phần do mình sáng tạo trong nội dung tác phẩm đồng tác giả để sử dụng độc lập thì quyền của đồng tác giả không thay đổi đối với tác phẩm. Tuy nhiên, nếu các đồng tác giả thỏa thuận sau khi tách ra từng bộ phận thì tác phẩm đồng tác giả không còn tồn tại dưới bất kì hình thức nào khác. Hoặc trong trường hợp các đồng tác giả thỏa thuận tùng tác giả không được tách phần của mình để sử dụng độc lập thì tác phẩm vẫn thuộc sở hữu chung của đồng tác giả đó.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vự sở hữu trí tuệ bạn có thể sử dụng: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật qua email hay Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật sở hữu trí tuệ trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi: 1900.6162, hoặc có thể Đặt lịch để gặp luật sư tư vấn trực tiếp tại văn phòng. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng phục vụ bạn./.