1. Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý nợ xấu theo quy định mới 

Vấn đề liên quan đến việc xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng hiện nay được quy định trong Nghị quyết 42/2017/QH14 (hết hiệu lực từ ngày 01/01/2024) về việc thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Thay vào đó, đến thời điểm hiện tại thì Nghị quyết 63/2022/QH15 được thực thi. Mặc dù trước đó đã có quy định về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, tuy nhiên, quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán trong quá trình xử lý nợ xấu vẫn chưa được thực hiện.

Theo Dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi), nợ xấu được định nghĩa như sau: Nợ xấu của các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài bao gồm hai loại chính:

- Khoản nợ xấu đã được ghi nhận trong bảng cân đối kế toán theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: Đây là những khoản nợ mà các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã xác định là không thể thu hồi được hoặc có rủi ro cao về việc thu hồi. Các khoản nợ này đã được ghi nhận trong bảng cân đối kế toán theo quy định của cơ quan quản lý, thường là Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong trường hợp của Việt Nam.

- Nợ xấu được dự phòng rủi ro nhưng vẫn chưa thu hồi được và đang được theo dõi ngoài bảng cân đối kế toán: Đây là những khoản nợ mà tổ chức tín dụng đã xác định có khả năng không thu hồi được hoặc có rủi ro cao, và đã dự phòng một phần hoặc toàn bộ để xử lý. Tuy nhiên, những khoản nợ này vẫn chưa được thu hồi và vẫn đang được theo dõi bên ngoài bảng cân đối kế toán.

- Ngoài ra, nợ xấu cũng có thể bao gồm những khoản nợ mà tổ chức tín dụng đã mua hoặc xử lý từ tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, nhưng vẫn chưa thu hồi được. Đây là những khoản nợ mà tổ chức tín dụng đã mua từ các bên khác như một phần của quá trình xử lý nợ xấu hoặc mua lại từ các tổ chức khác, nhưng vẫn chưa thành công trong việc thu hồi chúng. Các khoản nợ này thường được xem xét và xử lý một cách cẩn thận để đảm bảo rằng các biện pháp thích hợp được áp dụng để thu hồi nợ. Điều này có thể bao gồm việc tái cấu trúc nợ, đàm phán với nợ nhân, hoặc thậm chí là việc tiến hành các biện pháp pháp lý để thu hồi nợ tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi khoản nợ.

Theo Dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi), Điều 199 đã quy định chi tiết về thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý nợ xấu như sau: Chi phí bảo quản tài sản bảo đảm; Chi phí thu giữ và chi phí xử lý tài sản bảo đảm; Án phí của bản án hoặc quyết định của Tòa án liên quan đến việc xử lý tài sản bảo đảm; Khoản thuế và lệ phí trực tiếp liên quan đến việc chuyển nhượng tài sản bảo đảm, bao gồm thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ; Nghĩa vụ nợ được bảo đảm cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán hoặc xử lý nợ; Nghĩa vụ khác không có bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp một tài sản được sử dụng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên nhận bảo đảm sẽ được áp dụng theo quy định của pháp luật về dân sự và các quy định liên quan khác. Điều này đã được Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2024 thống nhất để đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm của nợ xấu và đảm bảo rằng các bên nhận bảo đảm được xử lý một cách công bằng và đồng nhất, và cũng giúp tăng cường tính minh bạch và dễ dàng quản lý trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm.

 

2. Thứ tự thanh toán với một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ

Dựa trên quy định của Điều 308 trong Bộ luật Dân sự 2015, thứ tự ưu tiên thanh toán đối với trường hợp một tài sản được sử dụng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ được quy định như sau:

- Trong trường hợp mà các biện pháp bảo đảm đều phát sinh hiệu lực đối kháng với một bên thứ ba, thứ tự thanh toán sẽ được xác định theo thứ tự mà các biện pháp đó được thiết lập hiệu lực đối kháng. Điều này có nghĩa là biện pháp bảo đảm nào được thiết lập và có hiệu lực đối kháng trước sẽ được ưu tiên thanh toán trước khi các biện pháp khác. Điều này giúp đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong việc xác định thứ tự thanh toán khi có nhiều bên thứ ba có quyền đối với cùng một tài sản được sử dụng làm bảo đảm.

- Nếu có một biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với một bên thứ ba và một biện pháp không phát sinh hiệu lực đối kháng với một bên thứ ba, nghĩa vụ liên quan đến biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ ba sẽ được thanh toán trước. Điều này là do biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ ba có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và quyền sở hữu của bên thứ ba đó. Do đó, khi xác định thứ tự thanh toán, ưu tiên sẽ được đưa cho nghĩa vụ liên quan đến biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ ba để đảm bảo tính công bằng và bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba đó.

- Trong trường hợp mà các biện pháp bảo đảm đều không phát sinh hiệu lực đối kháng với một bên thứ ba, thứ tự thanh toán sẽ được xác định theo thứ tự mà các biện pháp bảo đảm được thiết lập. Điều này có nghĩa là các biện pháp bảo đảm sẽ được ưu tiên theo thứ tự mà chúng được thiết lập hoặc ghi nhận, mà không có sự ưu tiên dựa trên mối quan hệ với bên thứ ba nào khác. 

Lưu ý: Các bên có thể thỏa thuận để thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán cho nhau. Tuy nhiên, quyền ưu tiên thanh toán chỉ được áp dụng trong phạm vi của tài sản bảo đảm của bên mà có quyền ưu tiên. Điều này có nghĩa là các thỏa thuận về thứ tự thanh toán sẽ chỉ ảnh hưởng đến tài sản mà bên có quyền ưu tiên đó đã cung cấp làm bảo đảm, và không ảnh hưởng đến các tài sản khác hoặc các bên thứ ba. Việc thỏa thuận này thường được thực hiện trong các hợp đồng vay mượn hoặc các thỏa thuận bảo đảm khác.

 

3. Hiệu lực thi hành của Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2024

Liên quan đến hiệu lực thi hành (theo Điều 209), Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế, ông Vũ Hồng Thanh, đã thông tin rằng, tuân thủ chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã lập văn bản số 358/NHNN-PC để đề xuất điều chỉnh các điều khoản 1 và 2 của Điều 209 về hiệu lực thi hành trong Dự thảo Luật như sau: Luật này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2024, trừ những quy định tại khoản 2 của Điều này. Điều 200 khoản 3 và Điều 210 khoản 15 của Luật này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2025. Thông qua việc điều chỉnh này, việc thi hành Luật được phân phối vào các giai đoạn khác nhau, giúp cho cơ quan thực thi Luật và các bên liên quan có thời gian chuẩn bị và điều chỉnh thích hợp trước khi các quy định có hiệu lực.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đồng ý với đề xuất từ Cơ quan soạn thảo và đề xuất Chính phủ tổ chức xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn, đảm bảo có hiệu lực đồng thời với Luật. Do đó, nếu không có thay đổi gì, theo quy định về hiệu lực thi hành đã được thông qua chính thức, Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi 2024 sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2024, trừ những quy định tại Điều 200 khoản 3 và Điều 210 khoản 15, sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết Rủi ro tín dụng và một số phương pháp xử lý nợ xấu trong các ngân hàng thương mại? Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!