1. Kiểm soát rừng, động vật quý hiếm, động vật hoang dã

Trong đó, động, thực vật rừng hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm là loài thực vật, động vật có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trường, số lượng còn ít ưong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng, thuộc danh mục các loài thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm do Chính phủ quy định.

Theo quy định tại Nghị định của Chính phủ số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 về quản lí thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm thì thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được phân thành hai nhóm như sau:

Nhóm I gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị đậc biệt về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao. Thực vật rừng, động vật rừng nhóm I được phân thành: Nhóm IA gồm các loài thực vật rừng và nhóm IB gồm các loài động vật rừng. Vấn đề này hiện được điều chỉnh tại hai văn bản chủ yếu là Nghị định của Chính phủ số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 về quản lí thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm và Nghị định của Chính phủ số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lí loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ.

Nhóm II gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng. Thực vật rừng, động vật rừng nhóm II được phân thành: Nhóm IIA, gồm các loài thực vật rừng và nhóm IIB gồm các loài động vật rừng.

Các loài động thực vật rừng hoang dã không có trong danh mục nhóm I và nhóm II nêu trên được hiểu là động thực vật rừng thông thường. Để kiểm soát tình ttạng suy thoái các giống loài động, thực vật rừng hoang dã, nguy cấp, quý hiếm, pháp luật đã quy định tương đối chi tiết những nghĩa vụ mà mọi tổ chức, cá nhân phải tuân thủ trong quá trình khai thác, sử dụng chúng tại Nghị định của Chính phủ số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 về quản lí thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm. Cụ thể là:

- Đối với nhóm I: Đây là nhóm động, thực vật rừng có giá trị rất cao song lại đứng trước nguy cơ tuyệt chủng lớn nên quy chế quản lí, bảo vệ chúng được xây dựng hết sức nghiêm ngặt. Đối với các động, thực vật rừng quý hiếm thuộc nhóm này, pháp luật nghiêm câm khai thác sử dụng vì mục đích thương mại, chỉ được khai thác vì mục đích nghiên cứu khoa học (kể cả để tạo nguồn giống ban đầu phục vụ cho nuôi sinh sản, ttồng cấy nhân tạo), quan hệ hợp tác quốc tế. Ngoài ra, việc khai thác thực vật rừng, động vật rừng nhóm này không được làm ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo tồn các loài đó ưong tự nhiên và phải có phương án được bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn phê duyệt.

- Đối vói nhóm II: Do giá trị và nguy cơ bị tuyệt chủng của chúng nhỏ hơn so với nhóm I nên quy chế quản lí, bảo vệ các giống loài động, thực vật rừng quý hiếm thuộc nhóm này ít nghiêm ngặt hơn. Nhà nước chỉ hạn chế việc khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Khi khai thác, sử dụng động thực vật rừng thuộc nhóm này, pháp luật có quy định riêng cho việc khai thác trong các khu rừng đặc dụng và ngoài các khu rừng đặc dụng. Cụ thể là:

Khai thác trong các khu rừng đặc dụng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định như khai thác, sử dụng động thực vật rừng thuộc nhóm I.

Khai thác ngoài khu rừng đặc dụng thì chỉ được khai thác thực vật rừng theo quy chế khai thác gỗ và lâm sản do Bộ nông nghiệp phát ưiển nông thôn ban hành. Tổ chức, cá nhân khai thác dộng vật rừng ưong trường hợp này thì chỉ được khai thác vì mục đích nghiên cứu khoa học, quan hệ hợp tác quốc tế và không được làm ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo tồn của các loài đó trong tự nhiên và phải có phương án được bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn phê duyệt đối với những khu rừng do các tổ chức trực thuộc trung ương quản lí hoặc được uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt đối với những khu rừng do các tổ chức, cá nhân thuộc địa phương quản lí.

>> Xem thêm:  Suy thoái rừng là gì ? Kiểm soát suy thoái rừng như thế nào ?

Bên cạnh đó, việc chế biến, kinh doanh thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và sản phẩm của chúng cũng đã được quy định rõ. Đó là:

Thứ nhất: Nghiêm cấm chế biến, kinh doanh thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IA, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB và nhóm nB từ tự nhiên và sản phẩm của chúng vì mục đích thương mại trừ một số trường hợp sau:

- Các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và sản phẩm của chúng có nguồn gốc nuôi sinh sản; các loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIB là tang vật Xử lý tịch thu theo quy định hiện hành của Nhà nước, không còn khả năng cứu hộ, thả lại môi trường.

- Thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IA là tang vật Xử lý tịch thu theo quy định hiện hành của Nhà nước; thực vật rừng nguy cấp, quý, hiểm nhóm HA từ tự nhiên, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm có nguồn gốc trồng cấy nhân tạo.

Thứ hai: Tổ chức, cá nhân chỉ được chế biến kinh doanh thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm vì mục đích thương mại khi đảm bảo các yêu cầu sau:

- Có đăng kí kinh doanh về chế biến, kinh doanh thực vật rừng, động vật rừng và sản phẩm của chúng, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.

- Thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và sản phẩm của chúng có nguồn gốc hợp pháp.

- Có sổ theo dõi nhập, xuất thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và sản phẩm của chúng theo quy định thống nhất của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn và chịu sự giám sát, kiểm tra của cơ quan kiểm lâm theo quy định hiện hành của pháp luật.

Trong mọi trường hợp động vật rừng đe doạ xâm hại tài sản hoặc tính mạng của nhân dân; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phải áp dụng trước các biện pháp xua đuổi, không gây tổn thương đến động vật rừng. Trường hợp động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm trực tiếp tấn công đe doạ đến tính mạng nhân dân ở ngoài các khu rừng đặc dụng, sau khi đã áp dụng các biện pháp xua đuổi nhưng không có hiệu quả thì báo cáo chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định cho phép được bẫy, bắn tự vệ để bảo vệ tính mạng nhân dân. Riêng đối với những động vật đặc biệt quý hiếm như: Voi, tê giác, hổ... tấn công thì phải báo cáo chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét; nếu không còn khả năng áp dụng được những biện pháp khác (xua đuổi, di chuyển đi vùng rừng khác...) để bảo vệ tính mạng nhân dân thì chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho phép áp dụng biện pháp bẫy, bắn tự vệ, sau khi đã có sự đồng ý của bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường.

Không chỉ đối với động, thực vật rừng hoang dã, quý hiếm, động, thực vật rừng hoang dã thông thường cũng là đối tượng cần được bảo vệ để kiểm soát tình trạng suy thoái rừng bởi lẽ chúng cũng là thành phần không thể thiếu của rừng. Trong lĩnh vực này, các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam (Xem: Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004; Thông tư của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn số 99/2006/TT-BNN ngày 06/11/2006 hướng dẫn thực hiện một sổ điều cùa quy chế quản lí rừng ban hành kèm theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006) tập trung chủ yếu vào việc bảo vệ động vật rừng hoang dã. Cụ thể là:

>> Xem thêm:  Rừng phòng hộ là gì ? Quy định pháp luật về rừng phòng hộ

Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải có trách nhiệm phối hợp vói các ngành các cấp chỉ đạo chặt chẽ việc kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn việc săn bắt ữái phép các loài động vật này. Trong trường hợp động vật hoang dã bị bắt giữ do vi phạm pháp luật:

+ Nếu còn khoẻ mạnh, không có bệnh tật phải khẩn trương Xử lý để thả chúng về môi trường thiên nhiên phù hợp với vùng sinh cảnh, nguồn thức ăn của từng loài. Trong trường hợp động vật hoang dã không được khoẻ mạnh (bị ốm, bị thương) thì lập biên bản chuyển giao về các trung tâm cứu hộ động vật hoang dã (nếu có điều kiện) để chăm sóc, cứu hộ rồi thả về môi trường tự nhiên.

+ Trường hợp động vật hoang dã bị chết hoặc bị thương không thể cứu chữa được thì lập biên bản bàn giao cho cơ quan nghiên cứu khoa học Xử lý làm tiêu bản để phục vụ đào tạo nghiên cứu khoa học (nếu có) hoặc tổ chức tiêu huỷ bảo đảm làm sạch môi trường, hoặc hoá giá để tiêu thụ (nếu có đủ điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm).

Bên cạnh đó, các nhà hàng, khách sạn không được phép kinh doanh những món ăn đặc sản, các cửa hiệu không được trưng bày quảng cáo, bán các sản phẩm cùa động vật hoang dã, quý hiếm săn bắt từ tự nhiên, trừ những trường hợp đã được cấp giấy phép kinh doanh các mặt hàng này. Điều kiện để các nhà hàng, khách sạn được cấp giấy phép kinh doanh trong lĩnh vực này là:

- Đăng kí các mặt hàng kinh doanh và đề biển quảng cáo rõ các món ăn đặc sản từ động vật

- Tự tổ chức gây nuôi và chỉ rõ nơi gây nuôi cũng như nguồn gốc những loài động vật hoang dã, quý hiếm để phục vụ kinh doanh các mặt hàng đặc sản

- Cam kết không thu mua những động vật hoang dã, quý hiểm của người săn bắt từ tự nhiên để làm hàng kinh doanh.

2. Pháp luật về hệ thống cơ quan kiểm soát suy thoái rừng

Tất cả các hoạt động kiểm soát suy thoái rừng đều được thực hiện thông qua một hệ thống cơ quan quản lí và bảo vệ rừng thống nhất được tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến địa phương. Hệ thống này bao gồm các cơ quan có thẩm quyền chung và các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn:

- Các cơ quan có thẩm quyền chung bao gồm Chính phủ và uỷ ban nhân dân các cấp. Chính phủ giữ vai trò chỉ đạo chung về kiểm soát tài nguyên rừng trên phạm vi cả nước. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện nhiệm vụ quản lí lực lượng kiểm lâm và đảm bảo việc thi hành pháp luật về kiểm soát tài nguyên rừng trong phạm vi địa phương.

- Các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn: Khác vói hệ thống cơ quan có thẩm quyền chung, các cơ quan này thực hiện chức năng kiểm soát tài nguyên rừng mang tính nghiệp vụ. Đây là lực lượng chuyên trách về kiểm soát rừng, bảo vệ và phát triển rừng. Hệ thống cơ quan này bao gồm:

+ Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn là cơ quan có thẩm quyền chuyên môn cao nhất trong kiểm soát suy thoái rừng và chịu ữách nhiệm trực tiếp trước Chính phủ về vấn đề này trên phạm vi cả nước.(ỉ) Bên cạnh đó, các bộ ngành khác như Bộ quốc phòng, Bộ công an... cũng có trách nhiệm phối hợp với Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện quản lí nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng.

+ Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn là cơ quan chuyên môn về kiểm soát rừng ở địa phương. Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn trực thuộc uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, có ttách nhiệm giúp cơ quan này thực hiện kiểm soát suy thoái rưng trong phạm vi địa phương.

+ Phòng chức năng được phân công về nông nghiệp và phát triển nông thôn và hạt kiểm lâm là cơ quan chuyên môn có ttách nhiệm giúp uỷ ban nhân dân cấp huyện thực hiện kiểm soát suy thoái rừng trong phạm vi địa phương.

+ Cán bộ lâm nghiệp chuyên trách giúp chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp xã (nơi có rừng) thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn về bảo vệ và phát triển rừng.

Ngoài ra, bên cạnh hệ thống cơ quan này còn có vai trò hết sức quan trọng của lực lượng kiểm lâm. Đây là lực lượng chuyên trách trực tiếp đảm bảo việc thi hành pháp luật về kiểm soát suy thoái rừng và là cơ quan tham mưu cho Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng như uỷ ban nhân dân các cấp trong chuyên môn, nghiệp vụ. Để đảm bảo tốt vai trò này, lực lượng kiểm lâm cũng được tổ chức tương đối chặt chẽ từ trung ương đến địa phương (Xem: Điều 3 Nghị định của Chính phủ số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 về thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng), bao gồm:

- Ở trung ương: Cục kiểm lâm trực thuộc Bộ nông nghiệp và phát ưiển nông thôn.

- Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Chi cục kiểm lâm trực thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh.

- Ở huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh: Hạt kiểm lâm huyện trực thuộc chi cục kiểm lâm. Hạt kiểm lâm huyện quản lí công chức kiểm lâm địa bàn xã.

- Ở vườn quốc gia có diện tích từ 7.000 ha trở lên, khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng đặc dụng khác có diện tích từ 15.000 ha trở lên, khu rừng phòng hộ đầu nguồn có diện tích từ 20.000 ha rừng ttở lên và có nguy cơ bị xâm hại cao, có th? thành lập hạt kiểm lâm rừng đặc dụng, hạt kiểm lâm rừng phòng hộ theo quy định của pháp luật. Xem: Nghị định của Chính phủ số 119/2006/NĐ-CP ngày 16/10/2006 về tố chức và hoạt động của kiểm lâm.

Kiểm lâm tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc thống nhất từ trung ương đến địa phương về chuyên môn nghiệp vụ. Hoạt động của kiểm lâm tuân thủ sự lãnh đạo, quản lí thống nhất của bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn và chịu sự chỉ đạo, điều hành của uỷ ban nhân dân các cấp đối với các hoạt động bảo vệ rừng trên địa bàn. Trong hoạt động bảo vệ rừng, kiểm lâm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên ngành về nông nghiệp và phát triển nông thôn, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang, các cơ quan Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và dựa vào sức mạnh của toàn dân để thực hiện nhiệm vụ được giao.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)