1. Quy định về bảo đảm tổ chức, cán bộ công đoàn
Theo Điều 23 của Luật Công đoàn năm 2012, quy định về bảo đảm tổ chức và cán bộ công đoàn như sau:
- Các cấp của Công đoàn phải đảm bảo tổ chức và số lượng cán bộ, công chức cần thiết để thực hiện các chức năng, quyền hạn, và trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
- Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phải xây dựng cơ cấu tổ chức, định hình bộ máy, và quy định chức danh cho cán bộ công đoàn, sau đó trình cơ quan có thẩm quyền để được quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền.
- Dựa trên nhu cầu và nhiệm vụ cụ thể của từng công đoàn cơ sở, và dựa vào số lượng lao động tại cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ công đoàn sẽ quyết định cách bố trí và phân chia cán bộ công đoàn chuyên trách.
2. Quy định về bảo đảm điều kiện hoạt động công đoàn
Quy định về bảo đảm điều kiện hoạt động của công đoàn theo Điều 24 của Luật Công đoàn năm 2012 có các điểm chính như sau:
- Các cơ quan, tổ chức, và doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm cung cấp nơi làm việc và đảm bảo các phương tiện cần thiết cho hoạt động của công đoàn cùng cấp.
- Cán bộ công đoàn không chuyên trách sẽ có thời gian làm việc theo một mức cố định trong tháng. Chẳng hạn, Chủ tịch và Phó Chủ tịch của công đoàn cơ sở có thể làm việc tối đa 24 giờ trong một tháng, trong khi Ủy viên Ban chấp hành, Tổ trưởng, và Tổ phó tổ công đoàn có thời gian làm việc tối đa 12 giờ trong một tháng. Những người này sẽ nhận lương từ đơn vị sử dụng lao động.
- Thời gian làm việc có thể được điều chỉnh tùy thuộc vào quy mô của cơ quan, tổ chức, hoặc doanh nghiệp. Ban Chấp hành công đoàn cơ sở và đơn vị sử dụng lao động sẽ thỏa thuận về thời gian làm việc bổ sung.
- Cán bộ công đoàn không chuyên trách có quyền nghỉ làm việc và sẽ được trả lương trong những ngày tham gia cuộc họp hoặc tập huấn mà công đoàn cấp trên triệu tập. Đơn vị sử dụng lao động cũng sẽ chi trả các chi phí đi lại, ăn ở, và sinh hoạt trong những ngày tham gia các cuộc họp hoặc tập huấn do cấp công đoàn triệu tập.
- Cán bộ công đoàn không chuyên trách sẽ nhận lương từ đơn vị sử dụng lao động và được hưởng phụ cấp trách nhiệm cán bộ công đoàn theo quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
- Cán bộ công đoàn chuyên trách sẽ được trả lương bởi Công đoàn và được bảo đảm quyền lợi và phúc lợi tập thể tương tự như những người lao động đang làm việc trong cơ quan, tổ chức, hoặc doanh nghiệp tương ứng.
3. Quy định về bảo đảm cho cán bộ công đoàn
Để bảo đảm quyền và lợi ích của cán bộ công đoàn theo Điều 25 của Luật Công đoàn năm 2012, các quy định cụ thể như sau:
- Trong trường hợp hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc của một cán bộ công đoàn không chuyên trách đang trong nhiệm kỳ sắp hết hạn, hợp đồng này có thể được gia hạn cho đến khi nhiệm kỳ của cán bộ công đoàn kết thúc.
- Đơn vị sử dụng lao động không được chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, sa thải, buộc thôi việc hoặc thuyên chuyển công tác đối với cán bộ công đoàn không chuyên trách mà không có ý kiến thỏa thuận bằng văn bản từ Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp tại cơ sở. Trong trường hợp không đạt thỏa thuận, cả hai bên phải báo cáo cho cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền. Sau một khoảng thời gian 30 ngày kể từ ngày báo cáo, đơn vị sử dụng lao động sẽ có quyền quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của họ.
- Nếu cán bộ công đoàn không chuyên trách bị chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, buộc thôi việc hoặc sa thải một cách trái pháp luật bởi cơ quan, tổ chức hoặc doanh nghiệp, Công đoàn phải đảm bảo yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp. Nếu được ủy quyền, Công đoàn sẽ đại diện và khởi kiện tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cán bộ công đoàn. Đồng thời, Công đoàn cũng sẽ hỗ trợ tìm việc làm mới và trợ cấp trong thời gian gián đoạn việc làm theo quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
4. Đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn trong tình hình mới
Sau hơn 90 năm qua, Công đoàn Việt Nam (CĐVN) đã trải qua quá trình hình thành và phát triển đáng kể. Trong vòng 35 năm qua, sau khi đất nước đổi mới, CĐVN đã trưởng thành ở mọi khía cạnh và đã đóng góp đáng kể vào những thành tựu vĩ đại của cuộc cách mạng, đồng thời góp phần xây dựng Giai cấp công nhân (GCCN) Việt Nam trở nên ngày càng mạnh mẽ.
CĐVN đã thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình là đại diện cho người lao động, chăm sóc và bảo vệ quyền lợi hợp pháp và công bằng của họ. Tổ chức công đoàn đã được củng cố và phát triển, số lượng đoàn viên và công đoàn cơ sở (CĐCS) tăng nhanh, và đội ngũ cán bộ công đoàn cũng phát triển về số lượng và chất lượng. CĐVN đã mở rộng hoạt động ra khỏi khu vực kinh tế quốc gia, và đã phối hợp hiệu quả hơn với chính quyền cấp dưới, các tổ chức, và nhà tuyển dụng để bảo vệ quyền lợi của người lao động. Các cuộc vận động và phong trào thi đua đã được phát động rộng rãi, hút sự quan tâm và sự đóng góp của đoàn viên và người lao động, góp phần vào sự gia tăng năng suất lao động và phát triển kinh tế - xã hội. CĐVN đã hoàn thành vai trò quan trọng là cầu nối giữa Đảng, nhà nước và công nhân, người lao động, đồng thời tích cực tham gia vào việc xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trong thời gian tới, với sự gia tăng nhanh chóng của số lượng công nhân và lao động, hoạt động của công đoàn tiếp tục mở rộng và chuyển mạnh hơn sang khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Quá trình phát triển kinh tế thị trường, cùng với những thách thức và cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, và sự cho phép thành lập tổ chức người lao động tại doanh nghiệp sẽ có tác động đáng kể đến việc làm, chất lượng nguồn nhân lực, thu hút và tập hợp người lao động. Trong bối cảnh này, có một yêu cầu cấp bách đối với CĐVN phải thực hiện sự đổi mới mạnh mẽ, thực sự cải thiện tổ chức và hoạt động của họ.
Nghị quyết số 02-NQ/TW đã xác định năm quan điểm chỉ đạo để xây dựng CĐVN mạnh mẽ và GCCN Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới là trách nhiệm của Đảng, hệ thống chính trị và xã hội. Sự đổi mới của tổ chức và hoạt động công đoàn phải đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng, phù hợp với thể chế chính trị của quốc gia, và phải thích nghi với yêu cầu của sự hội nhập quốc tế. Mục tiêu tổng quát là xây dựng CĐVN mạnh mẽ và toàn diện, có khả năng thích ứng và giải quyết những thách thức mới, thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ trong bối cảnh mới, và đóng vai trò quan trọng trong xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, cùng với việc tăng cường sự đoàn kết toàn dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Các mục tiêu cụ thể như sau:
Đối với mục tiêu đến năm 2025:
- Mục tiêu là đạt được 13,5 triệu đoàn viên trong CĐVN, với hầu hết các doanh nghiệp có 25 công nhân trở lên phải có tổ chức công đoàn. Đến năm 2023, mục tiêu trước mắt là đạt 12 triệu đoàn viên.
- Ngoài ra, mục tiêu cũng là đạt tỷ lệ 80% hoặc cao hơn các doanh nghiệp và tổ chức có tổ chức công đoàn ký kết thỏa ước lao động tập thể. Đến năm 2023, tỷ lệ này phải đạt trên 70%.
Đối với mục tiêu đến năm 2030:
- Mục tiêu dự kiến là có 16,5 triệu đoàn viên trong CĐVN. Trong trường hợp tại những nơi chưa có tổ chức đại diện người lao động, đa số người lao động sẽ được tập hợp và tham gia vào một số hoạt động của CĐVN.
- Tích cực phấn đấu để đạt tỷ lệ 85% hoặc cao hơn đối với các doanh nghiệp và tổ chức có tổ chức công đoàn ký kết thỏa ước lao động tập thể.
Đối với mục tiêu đến năm 2045:
- Mục tiêu cuối cùng là đảm bảo hầu hết người lao động tại cơ sở trở thành đoàn viên CĐVN.
- Đồng thời, mục tiêu là đạt tỷ lệ 99% hoặc cao hơn đối với các doanh nghiệp và tổ chức có tổ chức công đoàn ký kết thỏa ước lao động tập thể.
Bài viết liên quan: Quá trình phát triển của tổ chức công đoàn tại Việt Nam?
Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng thông qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!