1 Hiểu thế nào về công ty dự phần

Các công ty dự phần được thành lập bằng một hợp đồng ký kết giữa nhiều người với nhau; hợp đồng chỉ có hiệu lực đối với các thành viên và không có giá trị đối với người thứ ba.
Các công ty này tạo điều kiện chủ yếu cho các tư nhân hoặc các công ty muốn cùng nhau thực hiện một dịch vụ kinh doanh cụ thể, hoặc muốn tập trung vốn cần thiết, và sau đó cùng nhau phân chia lỗ lãi.
Tùy theo đối tượng, các công ty có thể, hoặc là công ty dân sự, hoặc là công ty thương mại, công ty kinh doanh.
Công ty dự phần được xem là một hình thức công ty không có tư cách pháp nhân và đơn thuần là một hợp đồng giữa các thành viên của công ty với nhau. Tuy nhiên mục tiêu lợi nhuận là mục tiêu mà các bên trong loại công ty này đều hướng tới. Công ty dự phần được chứng minh bằng mọi phưong tiện. Pháp luật nhiều khi không can thiệp sâu vào hình thức công ty này. Các mục tiêu cụ thể của sự liên kết, điều kiện và thể thức dự phần, sự phân chia lỗ lãi... đều theo các quy định do các bên thỏa thuận tạo nên.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũ và theo Luật Đầu tư được xem rất gần gũi vói công ty dự phần., "Hợp đồng hợp tác kinh doanh  là hình thức đầu tư được ký kết giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân" . Đạo luật này quy định đối tượng, nội dung hợp tác, thời hạn kinh doanh, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên, quan hệ hợp tác giữa các bên và tổ chức quản lý do các bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng
Việc quy định hình thức công ty này có ý nghĩa không chỉ cho việc giải quyết các tranh chấp thực tế phát sinh từ sự liên kết như vậy, mà còn có ý nghĩa là một giải pháp giải quyết các công ty thực tế và công ty được thành lập trên thực tế. 

2 Tính chất pháp lý và thành lập  công ty dự phần

1. Đây là các công ty vì có đủ các yếu tố của một công ty:
- Góp vốn bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật;
- Cùng nhau tham gia vào việc phân chia lỗ lãi;
- Có ý chí kết hội
2. Đây là các công ty được thành lập thiên về nhân thân, tức là căn cứ vào nhân thân con người của các thành viên.
Công ty không thể phát hành chứng khoán có thể chuyển nhượng hoặc mua bán, các thành viên công ty không thể chuyển nhượng phần vốn của mình.
3. Đây là các công ty ngầm, không được công bố, không có tư cách pháp nhân, và không tồn tại đối với người thứ ba. Căn cứ vào điều 1871, khoản 2 Bộ luật dân sự, các thành viên của công ty được tự do thống nhất với nhau về đối tượng, tổ chức hoạt động, và về các điều kiện của công ty dự phần, miễn là không vi phạm các quy định bắt buộc theo quy định của pháp luật
Khi thành lập công ty dự phần, các thành viên thỏa thuận với nhau về đối tượng của công ty, về hình thức, về tỷ lệ chia lợi tức, và về các điều kiện khác.
Chỉ cần các thành viên thống nhất với nhau và những thỏa thuận của họ có thể được chứng minh bằng mọi biện pháp thuộc lĩnh vưc thương mại, kinh doanh.Nhiều khi hợp đồng được ký kết qua con đường trao đổi thư từ.Nhưng trong trường hợp có tranh chấp thì các đương sự phải chứng minh có đủ các yếu tố đặc thù của một công ty nhất là ý chí kết hội.Không đòi hỏi bất kỳ điều kiện công bố nào.

3 Hoạt động của công ty và giải thể công ty

1. Quan hệ giữa các thành viên.
Trừ khi công ty có sự thỏa thuận về cách tổ chức khác, mọi quan hệ giữa các thành viên của công ty phải tuân theo các quy định áp dụng đối với các công ty dân sự  hoặc theo các quy định áp dụng đối với các công ty liên danh, nếu công ty có tính chất thượng mại, kinh doanh (điều 1871 - 1 Bộ luật dân sự).
Đối với người thứ ba, mỗi thành viên là chủ sở hữu đối với các tài sản người đó đã góp vào công ty. 
Tài sản có được bằng việc sử dụng các khoản tiền chung trong thời gian hoạt động của công ty,hoặc tài sản có từ trước khi góp vào công ty, được coi là tài sản chung không chia của các thành viên.
Những tài sản mà các thành viên thỏa thuận đưa vào tài sản chung, cũng được coi là tài sản chung không chia.
Ngoài ra có thể thỏa thuận, đối với người thứ ba, một thành viên vẫn là chủ sở hữu tất cả hoặc một phần tài sản mà người đó có nhằm thực hiện mục đích của công ty
Khi thanh lý công ty, mỗi thành viên lấy lại phần vốn đã góp (nếu còn). Trong trường hợp công ty thua lỗ, mỗi thành viên chịu một phần thua lỗ như đã thỏa thuận. 
Theo án lệ, đối với một công ty dự phần được lập ra đế khai thác một cơ sở thương mại, cơ sở kinh doanh thuộc sở hữụ của một thành viên, nếu người này lấy lại cơ sở của mình khi thanh lý công ty, thì phải tính giá trị gia tăng của cơ sở để đền bù thỏa đáng cho thành viên khác đã góp công sức vào công ty
Người quản lý chịu trách nhiệm với các thành viên khác về các lỗi phạm phải trong khi quản lý công ty.
2. Trong quan hệ với người thứ ba.
Người thứ ba chỉ biết người quản lý và chỉ có thể kiện người quản lý.
Mỗí thành viên ký kết hợp đồng nhân danh cá nhân và chịu trách nhiệm trước người thứ ba (điều 1872 - 1 Bộ luật dân sự)
Tuy nhiên, trong trường hợp những người tham gia hợp đồng với tư cách là thành viên của công tỵ và người thứ ba cũng biết rõ điều này, thì mỗi ngườ tham gia đều chịu trách nhiệm liên đới với người thứ ba về các hành vi của các người cùng tham gia, nếu công ty mang tính chất thương mại, và chịu trách nhiệm cá nhân trong các trường hợp khác.
Thành viên công ty do sự can thiệp của mình khiến cho người ký hợp đồng tưởng rằng thành viên đó muốn cùng cam kết, hoặc nếu có bằng chứng sự cam kết có lợi. cho thành viên đó thì người này cũng phải chịu trách nhiệm như trong trường hợp trên đây.
Căn cứ vào điều 1872 - 2, khi công ty dự phần không ấn định thời hạn hoạt động, một thành viên có thể bất cứ lúc nào yêu cầu giải thể công ty bằng một thông báo gửi cho tất cả cầc thành viên khác với điều kiện thông báo này là ngay thẳng và đúng lúc.
Trừ trường hợp có sự thỏa thuận khác, căn cứ vào điều 1872, không một thành viên nào có thể yêu cầu chia tài sản chung khi công ty chưa giải thể.

4 Các công ty với số thành viên và số vốn thay đổi

(Từ điều 48 đến điều 54 Luật 1867)
Những hợp tác xã, (sản xuất, tín dụng, xây dựng hoặc tiêu thụ) chủ yếu được thành lập theo hình thức này.
Mỗi thành viên của công ty vừa là thành viên được hưởng lợi nhuận và chịụ các khoản lỗ của công ty vừa là khách hàng, khi họ mua hàng hóa của công ty (hợp tác xã tiêu thụ), hoặc khi họ vay tiền của công ty (hợp tác xã tín dụng), hoặc khi họ làm việc trong công ty (hợp tác xã sản xuắt).
Lợi nhuận của công ty được chia cho các thành viên dưới hình thức hoàn lại một phần tiền cho người mua, trả công thêm cho người làm việc.
Trong các công ty này vốn thay đổi không cần công bố để xã viên mới có thể vào hợp tác xã mà không phai mua phần vốn góp của một thành viên, hoặc dể xã viến có thể ra hợp tác xã mà không gặp khó khăn (sẽ dẫh đến việc tăng vôn trong trưòng hợp thứ nhất và giảm vốn trong trường hợp thứ hai).
Lợi ích của người thứ ba không bị tổn thương dù không có công bố thay đổi vốn, bởi lẽ họ biết cơ chế các loại công ty này
Mỗi thành viên có thể rút khỏi công ty bất cứ lúc nào họ thấy thích hợp trừ phi có sự thỏa thuận ngược lại.
Có thể quy định đại hội đồng có quyền quyết định cho một hoặc nhiều thành viên rút khỏi công ty. Quyết đinh này phải được thông qua với đa số phiếu ấn định trong những trường hợp sửa đổi điều lệ. 
Kể từ ngày rút khỏi công ty thành viên đó vẫn phải chịu trách nhiệm trong 5 năm với các thành viên khác và người thứ ba về các nghĩa vụ mà công ty đã cam kết ở thời điểm ấy. Nhất là trong trường hợp vốn của công ty bị thâm hụt vì thua lỗ , công ty có thể giảm mức hoàn vốn và giữ lại phần vốn tương ứng với phần nợ người đó phải gánh chịu.
Trong các đại hội đồng, mỗi thành viên chỉ  có một phiếu không kể số phần vốn góp của họ nhiều hay ít.
Các cổ phần bao giờ cũng ghi tên và chỉ có thể chuyển nhượng để tránh hành vi đầu cơ.
Cần chú ý một số hợp tác xã có những quy tắc đặc biệt như các hợp tác xã nông nghiệp hợp tác xã tín dụng.
Các hợp tác xã mang tính chất dân sự hoặc thương mại là tùy theo đối tượng, trừ trường hợp được thành lập dưới hình thức công ty vô danh hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn.
Các điều khoản yề thay đổi vốn bị nghiêm cấm trong công ty vô danh không phải là hợp tác xã.
Hợp tác xã những người buôn bán lẻ.
Trong trường hợp thương mại bán lẻ đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc thành lập và gia nhập các hợp tác xã được coi là một biện pháp đặc biệt hiệu nghiệm để chống lại sự cạnh tranh của các "bộ mặt lớn", bằng cách tạo điều kiện cho các thành viên hợp tác xã mua chung, khiến họ có thể thực hiện những đơn đặt hàng lớn và được hưởng giá có lợi nhất.
Đối tượng hợp tác xã.
Các hợp tác xã này có thể cung ứng cho các thành viên toàn bộ hoặc một phần các hàng hóa, thực phẩm, dịch vụ, thiết bị và dụng cụ cần thiết cho hoạt động kính doanh, nhất là bằng cách lập ra và bảo vệ các lô hàng, xây dựng, mua, cho thuê, điều hành các cửa hàng, kho hàng. Các hợp tác xã cũng có thể tạo điều kiện dễ dãi cho các thành viên tiếp cận các cơ sở tài chính và tín dụng, và giúp đỡ họ về kỹ thuật, tài chính và kế toán. .
Tính chất pháp lý. 
Công ty này là công ty vô danh, có vốn thay đổi do Luật ngày 11-7-1972 và Luật ngày 24-7-1966 về công ty thương mại điều chỉnh. 
Hoạt động.
Số thành viên không bị hạn chế; họ có thể gồm thể nhân và pháp nhân.
Số vốn tối thiểu là 10.000 phrăng; mỗi phần góp vốn là 100 pr
Cũng như mọi hợp tác xã, các quyền và nghĩa vụ của các thành viên được đặc trưng bởi tư cách kép của họ; họ vừa là thành viên, vừa là khách hàng khi hợp tác xã mua hàng cho họ.
Các thành viên có thể rút khỏi công ty theo thể thức quy định trong điều lệ và được hoàn trả phần vốn góp vào.
Trong các đại hội đồng, mỗi thành viên chỉ có một phiếu phù hợp với quy tắc của mọi hợp tác xã.

5 Các công ty dân sự có hoạt động kinh doanh

Một công ty dận sự do đối tượng hoạt động (ví dụ: một công ty kinh doanh bất động sản) có thể được thành lập dưới hình thức một công ty cổ phần  hoặc dưới hình thức một công ty trách nhiệm hữu hạn, hoặc một công ty hợp danh.
Chính vì lý do hình thức công ty mà công ty dân sự được coi là kinh doanh.
Do đó, các công ty thuộc loại này. do luật và thông lệ thương mại điều chỉnh nhất là các công ty này có thể được thánh lý theo trình tự tư pháp.
Án lệ cũng công nhận các hành vi do các công ty này thực hiện mang tính chất thương mại, dù là các giao dịch bất động sản.

6 Các công ty có sự tham gia của nhà nước

Trong 20 năm trở lại đây Nhà nước và các tổ chức Nhà nước ngày càng có xu hướng can thiệp vào đời sống kinh tế bằng cách tham gia góp vốn vào các công ty đấy là các công ty kinh tế hỗn hợp hoặc tự mình kinh doanh thông qua các công ty quốc hữu hóa.
Các công ty kinh tế hỗn hợp
Trong loại công ty này Nhà nước can thiệp:
- Hoặc bằng cách góp một phần vốn của công ty,
- Hoặc bằng cách chỉ đưa một số đại diện vào hội đồng quản trị.
 Đây là các công ty vô danh, hoạt động theo các điều kiện của loại công ty này. Nhưng trong hội đồng quản trị có một số đại diện của nhà nước. Trong các đại diện hội đồng, nhà nước có quyền biểu quyết tương ứng với số cổ phần của mình.
Thông thường, nhà nước có 51% số vốn, do đó có thể luôn áp đặt ý muốn của mình: Ví dụ trong công ty sản xuất phân kali, Công ty hàng hải đại tây dương, Công ty đầu mộ Pháp vv

Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài.

Công Ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn!!