Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13

2. Luật sư tư vấn:

Theo quy định Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, tuổi kết hôn của nam là từ 20 tuổi trở lên, nữ là từ 18 tuổi trở lên. Từ 20 tuổi trở lên và từ 18 tuổi trở lên nghĩa là nam đã qua 19 tuổi và nữ đã qua 17 tuổi. Trong khi đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tuổi kết hôn đối với nam là đủ 20 tuổi, với nữ là đủ 18 tuổi. Tuổi đủ còn gọi là tuổi tròn, nghĩa là phải đủ 365 ngày tuổi mới tính đủ 1 tuổi. Theo như bạn nêu, bạn gái bạn sinh ngày 27/8/1998 thì đến 2/1/2016 bạn gái bạn được 17 tuổi 4 tháng (chưa đủ 18 tuổi) nên bạn gái bạn chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn tại thời điểm đó.

2.1. Quy định của pháp luật về độ tuổi kết hôn

Điểm a Khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

"Điều 8. Điều kiện kết hôn

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính."

2.2. Độ tuổi kết hôn.

2.2.1. Căn cứ lí luận

>> Xem thêm:  Điều kiện kết hôn với người trong ngành công an theo quy định mới nhất hiện nay ?

Độ tuổi là thước đo cho sự phát triển của con người, đảm bảo khả năng họ có thể thực hiện sứ mạng của mình là xây dựng gia đình và phát triển xã hội. Tuổi kết hôn được hiểu là tuổi mà một người được phép lấy chồng/vợ cũng như quyền làm hoặc buộc phải làm cha mẹ hoặc các hình thức khác đồng thuận khác. Độ tuổi và các yêu cầu khác nhau ở mỗi nước, nhìn chung thì độ tuổi kết hôn là 18 tuổi ở nhiều quốc gia, tuy nhiên nhiều nước cho phép độ tuổi kết hôn sớm hơn nếu có sự đồng ý của cha/mẹ hoặcluật pháp, hoặc trong trường hợp mang thai (nữ).

Độ tuổi kết hôn không chỉ căn cứ vào khả năng sinh sản của nam, nữ mà còn đảm bảo cho việc xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Đồng thời đảm bảo cho con cái sinh ra được khỏe mạnh cả về thể lực lẫn trí tuệ, có thể phát triển tốt để trở thành công dân có ích cho xã hội. Con người chỉ khi đạt đến độ tuổi nhất định mới có suy nghĩ đúng đắn và nghiêm túc trong việc kết hôn của mình. Hơn nữa, khả năng tham gia vào quá trình lao động tạo ra thu nhập khi mà con người đạt đến độ tuổi nhất định. Điều đó đảm bảo cho họ có cuộc sống độc lập về kinh tế, chín muồi về tâm lý, đầy đủ ý thức xã hội để thực hiện các chức năng của gia đình và duy trì tế bào của xã hội

2.2.2. Căn cứ pháp lí

Tuổi kết hôn được quy định trong các LHN-GĐ là căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và là điều kiện để xác định hôn nhân hợp pháp. Nếu một trong hai bên hoặc cả hai bên nam nữ chưa đạt đến độ tuổi theo quy định của LHN-GĐ thì được xác định là vi phạm về độ tuổi kết hôn hay còn được gọi là tảo hôn.

Khác với quy định về độ tuổi kết hôn trong các LHN-GĐ trước, LHN-GĐ năm 2014 quy định về điều kiện kết hôn tại điểm a khoản 1 Điều 8 là : “nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”. Như vậy, chỉ bằng quy định cụ thể là: “đủ” đã nâng độ tuổi kết hôn của nam và nữ lên cao hơn so với các quy định về độ tuổi kết hôn trước đó. Vì theo các quy định trước đây thì chỉ cần bước sang tuổi 18 đối với nữ và bước sang tuổi 20 đối với nam là đã có thể đăng ký kết hôn, ví dụ quy định tại khoản 1 Điều 9 LHN-GĐ năm 2000: “Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên”.

Việc nâng độ tuổi kết hôn của LHN – GĐ năm 2014 nhằm đồng bộ, thống nhất với các quy định với BLTTDS và BLDS. Vì theo BLDS năm 2005 cũng như BLDS năm 2015 người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên, khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải có người giám hộ và phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý…

Theo khoản 3 Điều 57 BLTTDS 2004 cũng như khoản 3 Điều 69 BLTTDS năm 2015, thì đương sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên mới có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Do đó, nếu cho phép người chưa đủ 18 tuổi kết hôn là không hợp lý, thiếu đồng bộ và làm hạn chế một số quyền của người nữ khi xác lập các giao dịch dân sự, thậm chí ngày cả yêu cầu ly hôn khi chưa đủ 18 tuổi thì cũng phải có người đại diện.

Tham khảo các bài viết liên quan:

Độ tuổi được phép kết hôn?

Điều kiện về tuổi kết hôn?

>> Xem thêm:  Tư vấn về độ tuổi phải tham gia nghĩa vụ quân sự ?

Tư vấn về tuổi kết hôn

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Tư vấn kết hôn với người nước ngoài muốn xin giấy xác nhận độc thân ở Việt Nam như thế nào ?