- 1. Quy định đóng bảo hiểm xã hội với lao động được trả lương bằng ngoại tệ
- 1.1. Người lao động nhận lương bằng ngoại lệ
- 1.2. Đóng bảo hiểm xã hội khi nhận lương bằng ngoại tệ như thế nào?
- 2. Quy định về mức đóng BHXH với người lao động nhận lương bằng ngoại tệ
- 2.1. Đối tượng người nước ngoài được đóng bảo hiểm xã hội
- 2.2. Mức đóng bảo hiểm xã hội
- 3. Có phải đóng thuế thu nhập cá nhân khi nhận lương bằng tiền ngoại tệ hay không?
1. Quy định đóng bảo hiểm xã hội với lao động được trả lương bằng ngoại tệ
Hiện nay, việc có rất nhiều người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam đã trở thành một xu hướng phổ biến, đặc biệt là trong các doanh nghiệp liên doanh hoặc các doanh nghiệp lớn có vốn đầu tư nước ngoài. Mở cửa kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài và xu hướng hội nhập quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi để người lao động nước ngoài đến Việt Nam làm việc. Các doanh nghiệp cần tìm nguồn nhân lực chất lượng, kỹ năng chuyên môn cao và có khả năng giao tiếp quốc tế, do đó, sự xuất hiện của lao động nước ngoài đã đáp ứng được nhu cầu này.
1.1. Người lao động nhận lương bằng ngoại lệ
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 95, Bộ luật lao động 2019, tiền lương ghi trong hợp đồng lao động và tiền lương trả cho người lao động phải được thực hiện bằng tiền Đồng Việt Nam. Tuy nhiên, đối với trường hợp người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, việc trả lương bằng ngoại tệ có thể được thực hiện.
Để đảm bảo minh bạch và công bằng trong việc trả lương cho người lao động, người sử dụng lao động phải thông báo bảng kê trả lương cho người lao động. Bảng kê này phải ghi rõ các thông tin như tiền lương chính, tiền lương làm thêm giờ, tiền lương làm việc vào ban đêm, cũng như nội dung và số tiền bị khấu trừ (nếu có). Tiền lương mà người lao động nhận được sẽ được dùng làm căn cứ để tính mức đóng Bảo hiểm Xã hội (BHXH).
Cụ thể, tiền lương tháng đóng BHXH được quy định bao gồm mức lương cơ bản, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật về lao động. Nếu tiền lương tháng đóng BHXH được trả cao hơn 20 lần mức lương cơ sở, thì tiền lương tháng đóng BHXH chỉ tính bằng 20 lần mức lương cơ sở.
Những quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động và giám sát việc tính toán và đóng BHXH một cách công bằng và hợp pháp. Bằng cách thực hiện đúng quy định về trả lương và đóng BHXH, người sử dụng lao động đảm bảo tuân thủ pháp luật và xây dựng môi trường làm việc công bằng và đáng tin cậy cho cả người lao động nước ngoài và người lao động Việt Nam.
1.2. Đóng bảo hiểm xã hội khi nhận lương bằng ngoại tệ như thế nào?
Theo quy định tại Điều 26, Nghị định 115/2015/NĐ-CP về việc đóng Bảo hiểm Xã hội (BHXH) đối với trường hợp nhận lương bằng ngoại tệ, các điểm quan trọng được thực hiện như sau:
Tiền lương tháng đóng BHXH được ghi trong sổ BHXH sẽ được tính bằng đồng Việt Nam, bất kể người lao động nhận lương bằng ngoại tệ hay không.
Tiền lương tháng đóng BHXH được tính bằng đồng Việt Nam dựa trên tiền lương bằng ngoại tệ mà người lao động nhận được. Tỷ giá chuyển đổi sẽ được sử dụng để quy đổi tiền lương bằng ngoại tệ thành đồng Việt Nam là tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố.
Để xác định tỷ giá chuyển đổi, ngày 02/01 trong 06 tháng đầu năm và ngày 01/07 trong 06 tháng cuối năm sẽ được sử dụng. Trong trường hợp ngày nghỉ trùng với ngày Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chưa công bố tỷ giá, thì tỷ giá của ngày tiếp theo liền kề do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố sẽ được áp dụng.
Quy định này nhằm đảm bảo tính công bằng và chính xác trong việc tính toán tiền lương đóng BHXH cho những người lao động nhận lương bằng ngoại tệ. Việc sử dụng tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố cũng giúp tránh các biến động tỷ giá ngẫu nhiên, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động trong việc tính toán và đóng BHXH một cách hợp lý và đúng quy định.
2. Quy định về mức đóng BHXH với người lao động nhận lương bằng ngoại tệ
2.1. Đối tượng người nước ngoài được đóng bảo hiểm xã hội
Đối tượng người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc phải đáp ứng điều kiện:
- Có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp.
- Có hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 01 năm trở lên với người sử dụng lao động tại Việt Nam
2.2. Mức đóng bảo hiểm xã hội
Theo Điều 85 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, quy định về mức đóng bảo hiểm xã hội như sau:
- Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và h khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, hằng tháng đóng bằng 8% mức tiền lương tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất.
Người lao động quy định điểm i khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, hằng tháng đóng bằng 8% mức lương cơ sở vào quỹ hưu trí và tử tuất.
- Người lao động quy định tại điểm g khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, mức đóng và phương thức đóng được quy định như sau:
+ Mức đóng hằng tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất bằng 22% mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài, đối với người lao động đã có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc; bằng 22% của 02 lần mức lương cơ sở đối với người lao động chưa tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng đã hưởng bảo hiểm xã hội một lần;
+ Phương thức đóng được thực hiện 3 tháng, 06 tháng, 12 tháng một lần hoặc đóng trước một lần theo thời hạn ghi trong hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Người lao động đóng trực tiếp cho cơ quan bảo hiểm xã hội nơi cư trú của người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài hoặc đóng qua doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Trường hợp đóng qua doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thì doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp thu, nộp bảo hiểm xã hội cho người lao động và đăng ký phương thức đóng cho cơ quan bảo hiểm xã hội.
Trường hợp người lao động được gia hạn hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động mới ngay tại nước tiếp nhận lao động thì thực hiện đóng bảo hiểm xã hội theo phương thức quy định tại Điều này hoặc truy nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội sau khi về nước.
- Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng bảo hiểm xã hội tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.
- Người lao động quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 mà giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động thì chỉ đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều 85 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đối với hợp đồng lao động giao kết đầu tiên.
Như vậy, đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động thì hằng tháng đóng bảo hiểm xã hội bằng 8% mức tiền lương cơ sở vào quỹ hưu trí và tử tuất. Còn đối với người lao động theo điểm g khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, mức đóng và phương thức đóng khác nhau tùy thuộc vào tình huống cụ thể và quy định của cơ quan bảo hiểm xã hội.
3. Có phải đóng thuế thu nhập cá nhân khi nhận lương bằng tiền ngoại tệ hay không?
Tại Điều 2 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007, có quy định về đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân như sau:
- Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật này phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.
- Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
+ Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam.
+ Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn.
+ Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 2 Thuế thu nhập cá nhân 2007
Đồng thời, căn cứ vào khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 (được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 Luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi 2012), quy định về thu nhập từ tiền lương, tiền công như sau:
- Thu nhập từ tiền lương, tiền công bao gồm:
+ Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công.
+ Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản: phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công; phụ cấp quốc phòng, an ninh; phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật; trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng và các khoản trợ cấp khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của Bộ luật lao động; trợ cấp mang tính chất bảo trợ xã hội và các khoản phụ cấp, trợ cấp khác không mang tính chất tiền lương, tiền công theo quy định của Chính phủ.
Như vậy, theo quy định, tiền lương và tiền công trả cho lao động bằng tiền ngoại tệ vẫn thuộc đối tượng tính thuế thu nhập cá nhân, và việc nộp thuế phụ thuộc vào điều kiện cư trú của người lao động và quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân.
Xem thêm bài viết: Hướng dẫn chốt sổ Bảo hiểm xã hội khi nghỉ việc mới nhất 2023. Khi có thắc mắc về quy định pháp luật, hãy liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến email: lienhe@luatminhkhue.vn