1. Quy định pháp luật về mức đóng bảo hiểm xã hội hiện nay

Từ ngày 1/7/2025, việc xác định tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được thực hiện theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 và Nghị định số 158/2025/NĐ-CP. Đối với người lao động hưởng lương do doanh nghiệp quyết định, căn cứ đóng bao gồm tiền lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận, trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương. (Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, Nghị định số 158/2025/NĐ-CP)

“Lương cơ bản” không phải là thuật ngữ pháp lý dùng để quyết định toàn bộ căn cứ đóng bảo hiểm xã hội. Đây thường chỉ là cách gọi trong quy chế hoặc hợp đồng của doanh nghiệp. Cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét bản chất thực tế của từng khoản thu nhập, không chỉ căn cứ vào tên gọi.

Đối với nhóm người lao động thông thường làm việc theo hợp đồng lao động:

  • Người lao động đóng 8% tiền lương làm căn cứ đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất.
  • Người sử dụng lao động đóng 17%, gồm 3% vào quỹ ốm đau, thai sản và 14% vào quỹ hưu trí, tử tuất.
  • Các khoản bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được xác định theo quy định riêng, không nên mặc định tổng nghĩa vụ bảo hiểm của mọi người lao động đều giống nhau. (Điều 32 và Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024)

Mức lương ghi trong hợp đồng cũng không được thấp hơn mức lương tối thiểu áp dụng tại địa bàn làm việc. Từ ngày 1/1/2026, mức lương tối thiểu tháng được quy định như sau:

Vùng Mức lương tối thiểu tháng
Vùng I 5.310.000 đồng
Vùng II 4.730.000 đồng
Vùng III 4.140.000 đồng
Vùng IV 3.700.000 đồng

Mức lương tối thiểu vùng là căn cứ bảo đảm mức lương thấp nhất khi trả cho người lao động, không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được tùy ý lấy mức này làm căn cứ đóng nếu tiền lương thực tế thuộc diện phải đóng cao hơn. (Nghị định số 293/2025/NĐ-CP)

 

2. Hành vi đóng BHXH theo mức lương cơ bản để né thuế là gì?

Đóng bảo hiểm xã hội theo mức lương cơ bản thấp không đương nhiên là vi phạm. Doanh nghiệp chỉ vi phạm khi cố tình ghi mức lương đóng thấp hơn thực tế để giảm số tiền bảo hiểm phải nộp hoặc để che giấu thu nhập chịu thuế.

Một số biểu hiện thường gặp gồm:

  • Hợp đồng ghi mức lương cơ bản thấp, nhưng người lao động thực tế được trả một khoản tiền cố định cao hơn hằng tháng.
  • Chia tiền lương thành nhiều khoản như “hỗ trợ”, “phụ cấp”, “trợ cấp” nhưng các khoản này được trả cố định, xác định được mức tiền và không phụ thuộc vào điều kiện thực tế.
  • Sử dụng hai bảng lương: một bảng để đăng ký với cơ quan bảo hiểm xã hội và một bảng phản ánh số tiền thực tế trả cho người lao động.
  • Trả một phần tiền lương ngoài sổ sách, bằng tiền mặt hoặc qua tài khoản cá nhân khác.
  • Không kê khai đầy đủ người lao động, mức lương hoặc thời gian làm việc phải tham gia bảo hiểm xã hội.
  • Ghi nhận khoản tiền lương thường xuyên dưới tên gọi “thưởng” hoặc “hỗ trợ” nhằm loại khoản tiền này khỏi căn cứ đóng.

Ngược lại, các khoản thưởng phụ thuộc vào kết quả sản xuất, kinh doanh hoặc chất lượng công việc; khoản hoàn trả chi phí có chứng từ; khoản phúc lợi thực tế và không mang tính tiền lương có thể không thuộc tiền lương làm căn cứ đóng. Tuy nhiên, việc xác định phải dựa vào hợp đồng, quy chế trả lương, chứng từ và cách chi trả thực tế.

Theo Nghị định số 158/2025/NĐ-CP, các khoản phụ cấp hoặc bổ sung phụ thuộc, biến động theo năng suất lao động, quá trình làm việc hoặc chất lượng thực hiện công việc được phân biệt với khoản tiền được trả thường xuyên, ổn định. Vì vậy, doanh nghiệp không thể chỉ đổi tên một khoản tiền lương thành “phụ cấp” để tự động loại khỏi căn cứ đóng.

Cần phân biệt nghĩa vụ thuế và nghĩa vụ bảo hiểm xã hội. Một khoản tiền có thể được xử lý khác nhau theo pháp luật thuế và pháp luật bảo hiểm xã hội; việc doanh nghiệp không tính hoặc đã tính thuế không quyết định khoản đó có phải đóng bảo hiểm xã hội hay không.

 

3. Đóng BHXH thấp hơn thực tế có bị truy thu hay xử phạt không?

Có. Nếu xác định doanh nghiệp đăng ký mức tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn quy định, doanh nghiệp có thể phải:

  • Đóng bổ sung phần bảo hiểm xã hội còn thiếu cho người lao động.
  • Nộp khoản tiền tính theo mức 0,03% mỗi ngày trên số tiền chậm đóng hoặc trốn đóng và thời gian vi phạm.
  • Điều chỉnh lại thông tin tiền lương, thời gian và quá trình đóng bảo hiểm xã hội.
  • Giải quyết lại quyền lợi bảo hiểm xã hội nếu mức đóng thấp trước đó làm ảnh hưởng đến người lao động.
  • Chịu xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xem xét trách nhiệm hình sự nếu hành vi có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 xác định việc đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn quy định là một trong các trường hợp có thể bị coi là trốn đóng. Việc phân biệt chậm đóng và trốn đóng, cũng như thời điểm chuyển từ chậm đóng sang trốn đóng, được hướng dẫn thêm tại Nghị định số 274/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 30/11/2025. (Điều 39, Điều 40 và Điều 41 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, Nghị định số 274/2025/NĐ-CP)

Tuy nhiên, không phải cứ có chênh lệch giữa tổng thu nhập và mức đóng bảo hiểm xã hội là đương nhiên bị truy thu. Cơ quan có thẩm quyền phải xác định khoản chênh lệch đó có phải là tiền lương, phụ cấp hoặc khoản bổ sung thường xuyên, ổn định hay không.

Mức phạt hành chính cụ thể phụ thuộc vào hành vi, số lượng người lao động bị ảnh hưởng, thời gian vi phạm và văn bản xử phạt được áp dụng tại thời điểm xử lý. Do đó, không nên áp dụng máy móc một mức phạt cố định cho mọi trường hợp.

 

4. Hậu quả pháp lý khi doanh nghiệp trốn đóng hoặc đóng thiếu BHXH

Đối với người lao động, việc đóng bảo hiểm xã hội thấp hơn thực tế có thể làm giảm:

  • Mức hưởng chế độ ốm đau, thai sản.
  • Mức hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong trường hợp tiền lương làm căn cứ tính hưởng bị ảnh hưởng.
  • Mức lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần.
  • Quyền lợi của thân nhân khi người lao động chết.
  • Khả năng chứng minh đầy đủ quá trình làm việc và tiền lương khi phát sinh tranh chấp.

Đối với doanh nghiệp, hậu quả có thể bao gồm:

  • Phải truy đóng toàn bộ số tiền còn thiếu và tiền tính do chậm đóng, trốn đóng.
  • Bị xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.
  • Bị cơ quan bảo hiểm xã hội đôn đốc, công khai tình trạng chậm đóng hoặc trốn đóng theo quy định.
  • Phải điều chỉnh hồ sơ, dữ liệu bảo hiểm xã hội của người lao động.
  • Phát sinh tranh chấp lao động, yêu cầu bồi thường hoặc yêu cầu thanh toán phần quyền lợi bị thiệt hại.
  • Bị xem xét trách nhiệm hình sự nếu hành vi trốn đóng đạt điều kiện theo Bộ luật Hình sự.

Việc doanh nghiệp đã khấu trừ phần tiền bảo hiểm của người lao động nhưng không nộp hoặc nộp không đầy đủ vào quỹ còn có thể làm phát sinh trách nhiệm nghiêm trọng hơn. Người lao động cũng cần thận trọng khi đồng ý ký hợp đồng giả tạo hoặc xác nhận mức lương không đúng thực tế, vì điều này có thể gây khó khăn cho việc chứng minh quyền lợi sau này.

 

5. Cách xử lý khi quyền lợi BHXH bị ảnh hưởng do doanh nghiệp đóng sai mức

Người lao động nên thực hiện theo các bước sau:

  • Kiểm tra quá trình đóng bảo hiểm xã hội trên sổ bảo hiểm xã hội hoặc ứng dụng VssID; đối chiếu với hợp đồng lao động, phụ lục hợp đồng, bảng lương, phiếu lương và số tiền thực tế nhận được.
  • Lập bảng đối chiếu theo từng tháng, trong đó thể hiện mức lương ghi trên hợp đồng, các khoản phụ cấp hoặc bổ sung, số tiền thực tế được trả và mức tiền doanh nghiệp đã đăng ký đóng.
  • Thu thập chứng cứ như hợp đồng lao động, quyết định tăng lương, bảng chấm công, bảng lương, sao kê ngân hàng, tin nhắn trao đổi công việc, quy chế trả lương và chứng từ khấu trừ bảo hiểm.
  • Gửi yêu cầu bằng văn bản cho doanh nghiệp, đề nghị giải thích căn cứ xác định tiền lương đóng bảo hiểm xã hội và thực hiện điều chỉnh, truy đóng phần còn thiếu nếu có vi phạm.
  • Đề nghị doanh nghiệp nộp hồ sơ điều chỉnh với cơ quan bảo hiểm xã hội, đóng đủ phần còn thiếu và tiền phát sinh do chậm đóng hoặc trốn đóng. Người lao động nên yêu cầu được thông báo kết quả điều chỉnh bằng văn bản.
  • Nếu doanh nghiệp không hợp tác, người lao động có thể gửi phản ánh hoặc khiếu nại đến cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền, tổ chức công đoàn hoặc tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp, cơ quan thanh tra và cơ quan quản lý nhà nước về lao động có thẩm quyền.
  • Trường hợp quyền lợi đã bị giải quyết thấp hơn do dữ liệu đóng sai, người lao động cần đề nghị cơ quan bảo hiểm xã hội xem xét điều chỉnh lại chế độ sau khi doanh nghiệp hoàn tất truy đóng. Nghị định số 158/2025/NĐ-CP có quy định về việc xác nhận bổ sung thời gian đóng và điều chỉnh mức hưởng trong một số trường hợp chậm đóng, trốn đóng.
  • Nếu tranh chấp không được giải quyết, người lao động có thể yêu cầu hòa giải, khởi kiện tại Tòa án hoặc sử dụng cơ chế tố cáo, phản ánh đến cơ quan có thẩm quyền tùy tính chất vụ việc.

Người lao động không nên ký bổ sung các giấy tờ có nội dung không đúng thực tế, nhận tiền để từ bỏ quyền lợi bảo hiểm xã hội hoặc tự ý nộp toàn bộ khoản truy đóng khi chưa có bảng tính và hướng dẫn chính thức. Khi vụ việc có số tiền lớn, kéo dài nhiều năm hoặc liên quan đến việc doanh nghiệp lập hai hệ thống hồ sơ, nên trao đổi với luật sư hoặc cơ quan bảo hiểm xã hội để xác định chính xác hướng xử lý.

Bạn đọc cũng có thể xem thêm: