1. Chấp hành viên là gì?

Điều 17 Luật Thi hành án dân sự 2008 quy định:

Chấp hành viên là ngạch công chức ngành tư pháp. Người được Nhà nước giao trách nhiệm tổ chức thi hành các bản án, quyết định về dân sự của tòa án Việt Nam và bản án, quyết định về dân sự của Tòa án nước ngoài đã được tòa án Việt Nam công nhận.

Công việc chính của một chấp hành viên

  • Thi hành các bản án,vụ việc được phân công,đảm bảo lợi ích của nhà nước,quyền,lợi ích hợp pháp của đương sự và thực hiện nghiêm chỉnh đạo đức.
  • Triệu tập đương sự,những người có liên quan để thi hành án.
  • Quyết định biện pháp áp dụng đảm bảo thi hành án
  • Yêu cầu cơ quan công an tạm giữ người chống lại thi  hành án
  • Lập biên bản về hành vi vi phạm pháp luật về thi hành án
  • Được sử dụng công cụ hỗ trợ khi thực hiện thi hành công vụ
  • Thực hiện nhiệm vụ khác theo sự phân công của thủ trưởng

2. Tiêu chuẩn bổ nhiệm chấp hành viên

Khoản 1 Điều 18 Luật thi hành án dân sự quy định chấp hành viên phải là: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, trung thực, liêm khiết, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ cử nhân luật trở lên, có sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao”. Cụ thể hơn, tiêu chuẩn để trở thành chấp hành viên là:

2.1. Tiêu chuẩn bổ nhiệm Chấp hành viên sơ cấp:

- Đáp ứng điều kiện ở khoản 1 Điều 18 nêu trên;

- Có thời gian làm công tác pháp luật từ 03 năm trở lên;

- Đã được đào tạo nghiệp vụ thi hành án dân sự;

- Trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp.

2.2. Tiêu chuẩn bổ nhiệm Chấp hành viên trung cấp:

- Đáp ứng điều kiện ở khoản 1 Điều 18 nêu trên;

- Có thời gian làm Chấp hành viên sơ cấp từ 05 năm trở lên;

- Trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp hành viên trung cấp.

2.3. Tiêu chuẩn bổ nhiệm Chấp hành viên cao cấp:

- Đáp ứng điều kiện ở khoản 1 Điều 18 nêu trên;

- Có thời gian làm Chấp hành viên trung cấp từ 05 năm trở lên;

- Trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp hành viên cao cấp.

2.4. Trường hợp đặc biệt:

- Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này, là sỹ quan quân đội tại ngũ thì được bổ nhiệm Chấp hành viên trong quân đội.

- Người đang là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên được điều động đến công tác tại cơ quan thi hành án dân sự, người đã từng là Chấp hành viên nhưng được bố trí làm nhiệm vụ khác và có đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật thi hành án dân sự thì có thể được bổ nhiệm Chấp hành viên ở ngạch tương đương không qua thi tuyển.

- Trường hợp đặc biệt do nhu cầu bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật thi hành án dân sự đã có thời gian làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên có thể được bổ nhiệm Chấp hành viên sơ cấp; có 10 năm làm công tác pháp luật trở lên có thể được bổ nhiệm Chấp hành viên trung cấp; có 15 năm làm công tác pháp luật trở lên có thể được bổ nhiệm Chấp hành viên cao cấp không qua thi tuyển.

3. Quy định về miễn nhiệm chất hành viên

Điều 19 Luật thi hành án dân sự quy định hai trường hợp miễn nhiệm Chấp hành viên là:

- Đương nhiên miễn nhiệm:

Chấp hành viên đương nhiên được miễn nhiệm trong trường hợp nghỉ hưu hoặc chuyển công tác đến cơ quan khác.

- Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, quyết định miễn nhiệm Chấp hành viên trong trường hợp:

+ Do hoàn cảnh gia đình hoặc sức khỏe mà xét thấy không thể bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ Chấp hành viên;

+ Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ không bảo đảm thực hiện nhiệm vụ Chấp hành viên hoặc vì lý do khác mà không còn đủ tiêu chuẩn để làm Chấp hành viên.

4. Những hành vi bị cấm đối với chấp hành viên

Điều 21 Luật thi hành án dân sự quy định các hành vi bị cấm đối với chấp hành viên là các hành vi sau đây:

- Những việc mà pháp luật quy định công chức không được làm.

- Tư vấn cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dẫn đến việc thi hành án trái pháp luật.

- Can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ việc thi hành án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm thi hành án.

- Sử dụng trái phép vật chứng, tiền, tài sản thi hành án.

- Thực hiện việc thi hành án liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và vợ, chồng, con đẻ, con nuôi; Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của Chấp hành viên, của vợ hoặc chồng của Chấp hành viên; Cháu ruột mà Chấp hành viên là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì.

- Sử dụng thẻ Chấp hành viên, trang phục, phù hiệu thi hành án, công cụ hỗ trợ để làm những việc không thuộc nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

- Sách nhiễu, gây phiền hà cho cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thi hành án.

- Cố ý thi hành trái nội dung bản án, quyết định; trì hoãn hoặc kéo dài thời gian giải quyết việc thi hành án được giao không có căn cứ pháp luật.

Trên đây là quy định cụ thể về tiêu chuẩn bổ nhiệm, điều kiện miễn nhiệm và nhiệm vụ, quyền hạn cũng như hành vi bị cấm đối với chấp hành viên.

5. Nhiệm vụ, quyền hạn của chấp hành viên

Điều 20 Luật thi hành án dân sự quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Chấp hành viên là:

1. Kịp thời tổ chức thi hành vụ việc được phân công; ra các quyết định về thi hành án theo thẩm quyền.

2. Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; thực hiện nghiêm chỉnh chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Chấp hành viên.

3. Triệu tập đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án.

4. Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan xử lý vật chứng, tài sản và những việc khác liên quan đến thi hành án.

5. Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án; lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án; thu giữ tài sản thi hành án.

6. Yêu cầu cơ quan Công an tạm giữ người chống đối việc thi hành án theo quy định của pháp luật.

7. Lập biên bản về hành vi vi phạm pháp luật về thi hành án; xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm.

8. Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế để thu hồi tiền, tài sản đã chi trả cho đương sự không đúng quy định của pháp luật, thu phí thi hành án và các khoản phải nộp khác.

9. Được sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định của Chính phủ.

10. Thực hiện nhiệm vụ khác theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự.

Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án và được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín.

5.1. Về quyền yêu cầu của chấp hành viên

Quyền yêu cầu của chấp hành viên được được hiểu là quyền hạn mà chấp hành viên được quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định. Quyền yêu cầu của chấp hành viên quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau, chủ yếu và cơ bản nhất được thể hiện trong Luật Thi hành án dân sự. Quyền yêu cầu của chấp hành viên là một quyền hạn quan trọng trong thực thi công vụ của chấp hành viên. Quyền yêu cầu của chấp hành viên bao gồm: yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án; yêu cầu cơ quan công an tạm giữ người chống đối việc thi hành án theo quy định của pháp luật; yêu cầu người phải thi hành án phải kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án với cơ quan thi hành án dân sự và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp các thông tin, tài liệu có liên quan đến việc thi hanh án; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải thi hành án phong tỏa tài khoản, tài sản;…

Có thể nhận thấy rằng, ưu điểm lớn nhất về quyền yêu cầu của chấp hành viên chính là về số lượng và tính chất của yêu cầu. Ở góc độ này, chúng ta có thể nhận thấy rằng phạm vi mà chấp hành viên được quyền yêu cầu là khá rộng, cả về số lượng và tính chất của yêu cầu. Điều này là hoàn toàn phù hợp với một chức danh tư pháp - được pháp luật giao nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức thi hành án dân sự. Trong quá trình thực thi công vụ, chấp hành viên không phải lúc nào cũng có thể ra văn bản: Thông báo, quyết định để thi hành án mà đòi hỏi hình thức văn bản phải được đa dạng, phong phú và linh hoạt đảm bảo cho hoạt động của chấp hành viên được thông suốt, hiệu quả, hiệu lực. Chính vì vậy, pháp luật THADS đã quy định cho phép chấp hành viên được quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện hoặc không thực hiện các công việc nhất định. Đó là tính tất yếu hoạt động của chấp hành viên.

5.2. Về quyền được pháp luật bảo vệ của chấp hành viên

Chấp hành viên cũng là con người, vì vậy, trong quá trình tổ chức THADS chấp hành viên cũng cần được pháp luật bảo vệ. Điều 20 Luật Thi hành án dân sự quy định: “Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án và được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín”.

Nếu như, quyền của chấp hành viên gắn liền với trách nhiệm (quyền hạn) nói chung, hay quyền yêu cầu của chấp hành viên nói riêng được quy định khá cụ thể, chi tiết trong Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành, thì ngược lại, quyền được pháp luật bảo vệ của chấp hành viên lại nằm rải rác ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Ví dụ như, để bảo vệ chấp hành viên đối với hành vi tố cáo sai sự thật của người tố cáo thì được quy định ở Luật Thi hành án dân sự, Luật Tố cáo, Luật Xử phạt vi phạm hành chính, Bộ luật Hình sự,… Quyền được pháp luật bảo vệ của chấp hành viên, bao gồm: Quyền được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe; quyền được pháp luật bảo vệ về danh dự, nhân phẩm và uy tín;… Như vậy, quyền được pháp luật bảo vệ của chấp hành viên có nội hàm không rộng lớn, nhưng nó lại có phạm vi quan hệ bao trùm lên toàn bộ quá trình hoạt động của chấp hành viên. Vì vậy, việc xem xét bảo vệ chấp hành viên không phải là là điều đơn giản, nếu không muốn nói là khá khó khăn, phức tạp. Nhìn từ các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn công tác THADS, thì có khá nhiều quy phạm pháp luật nhằm bảo vệ chấp hành viên nhưng việc áp dụng chúng lại không thật dễ dàng. Bên cạnh đó, vẫn còn những “khoảng trống” trong cơ chế bảo vệ chấp hành viên.