1. Quy định về tổ chức của Ban thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn
Tổ chức của Ban Thanh tra nhân dân tại cấp xã, phường, thị trấn được thực hiện như sau theo quy định tại Điều 13 Nghị định 59/2023/NĐ-CP:
- Trước cuộc họp, cơ quan chức năng hoặc tổ chức địa phương sẽ thông báo về việc tổ chức cuộc họp bầu cử thành viên của Ban Thanh tra nhân dân. Các biểu mẫu, quy trình và các văn bản liên quan cần được chuẩn bị trước. Cuộc họp được tổ chức theo quy định và lịch trình đã thông báo trước đó. Các cử tri và các cơ quan liên quan được mời tham dự để tham gia vào quyết định bầu cử thành viên. Sau khi kết thúc quá trình bầu cử, phiếu bầu sẽ được tính và kết quả sẽ được công bố công khai tại cuộc họp. Các thành viên mới của Ban Thanh tra nhân dân sẽ được xác định dựa trên số phiếu mà họ nhận được.
- Dựa trên đề xuất của Ban công tác Mặt trận tại thôn, tổ dân phố, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã sẽ xem xét và quyết định việc thôi hoặc bổ sung thành viên Ban Thanh tra nhân dân ở cấp xã, phường, thị trấn.
- Cuộc họp của cộng đồng dân cư để bầu hoặc bổ sung thành viên của Ban Thanh tra nhân dân tại cấp xã, phường, thị trấn phải tuân theo quy định tại Điều 3 của Nghị định. Điều này thường bao gồm các quy định cơ bản về việc tổ chức và quản lý cuộc họp.
- Số lượng thành viên của Ban Thanh tra nhân dân tại cấp xã, phường, thị trấn sẽ được xác định dựa trên số lượng thôn, tổ dân phố tương ứng trên địa bàn cấp xã, nhưng không ít hơn 05 thành viên. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã sẽ quyết định số lượng cụ thể các thành viên dựa trên nguyên tắc đảm bảo mỗi thôn, tổ dân phố đều có đại diện tham gia Ban Thanh tra nhân dân tại cấp xã, phường, thị trấn. Quy định này nhằm đảm bảo quá trình bầu cử hoặc bổ sung thành viên của Ban Thanh tra nhân dân diễn ra một cách minh bạch, công bằng và đáp ứng được quy định pháp luật.
- Trong trường hợp cấp xã, phường, thị trấn chỉ có dưới 05 thôn, tổ dân phố, thì số lượng thành viên của Ban Thanh tra nhân dân sẽ được bầu lên tối đa là 05 thành viên. Điều này đảm bảo rằng Ban Thanh tra nhân dân vẫn được hình thành và hoạt động mặc dù với số lượng thôn, tổ dân phố ít hơn. Việc giới hạn số lượng thành viên cũng có thể giúp đảm bảo tính linh hoạt và hiệu quả của ban trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình.
- Ban Thanh tra nhân dân tại cấp xã, phường, thị trấn sẽ bao gồm Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên. Trưởng ban có trách nhiệm lãnh đạo, tổ chức và điều hành các hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân. Ban có thể có một hoặc nhiều Phó Trưởng ban, tùy thuộc vào quy định của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã. Các Phó Trưởng ban hỗ trợ Trưởng ban trong việc thực hiện nhiệm vụ của ban và thường được giao các phần công việc cụ thể. Các Ủy viên của Ban Thanh tra nhân dân là thành viên chính thức của ban, tham gia vào việc đưa ra quyết định và thực hiện các hoạt động của ban. Số lượng và cụ thể các Ủy viên có thể được quy định trong các quy định pháp lý hoặc quyết định của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.
- Số lượng Phó Trưởng ban sẽ được quyết định dựa trên số lượng thành viên của Ban Thanh tra nhân dân tại cấp xã, phường, thị trấn, nhưng không vượt quá 02 người, do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã quyết định.
2. Phạm vi giám sát của Ban thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn?
Hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân ở cấp xã, phường, thị trấn có phạm vi như sau theo Điều 14 Nghị định 59/2023/NĐ-CP:
- Xây dựng kế hoạch hoạt động: Ban Thanh tra nhân dân tại cấp xã, phường, thị trấn đề ra kế hoạch hoạt động để thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định tại Điều 38 của Luật Thực hiện Dân chủ ở Cơ sở, với tần suất quý, 6 tháng, và hàng năm. Kế hoạch này bao gồm mục đích, yêu cầu, nội dung, thời gian, kinh phí, tổ chức thực hiện và các điều kiện khác cần thiết. Kế hoạch hoạt động có thể điều chỉnh, bổ sung phù hợp với tình hình thực tế hoặc khi có vấn đề đột xuất.
- Xây dựngkế hoạch kiểm tra và giám sát: Trên cơ sở của Kế hoạch hoạt động, Ban Thanh tra nhân dân ở cấp xã, phường, thị trấn lập kế hoạch cụ thể cho các hoạt động kiểm tra, giám sát và gửi cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cùng với các đối tượng liên quan chậm nhất 05 ngày làm việc trước khi tiến hành.
- Phương thức hoạt động: Tiếp nhận thông tin, phản ánh, và kiến nghị từ tổ chức và cá nhân liên quan trực tiếp hoặc qua hòm thư góp ý về các vấn đề thuộc phạm vi kiểm tra, giám sát của Ban Thanh tra nhân dân ở cấp xã, phường, thị trấn. Làm việc với các tổ chức, cá nhân liên quan để thu thập thông tin, tài liệu, phân tích, và đánh giá các thông tin thu thập, làm rõ nội dung phản ánh và kiến nghị. Thông báo kết quả kiểm tra, giám sát, và xác minh cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan bằng văn bản. Trong trường hợp phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, Ban Thanh tra nhân dân sẽ kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.
- Chế độ báo cáo: Ban Thanh tra nhân dân ở cấp xã, phường, thị trấn sẽ báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ hàng quý, 6 tháng, và hàng năm cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, và báo cáo đột xuất khi có yêu cầu hoặc khi có vấn đề phát sinh.
3. Nguyên tắc tổ chức và phối hợp thực hiện hoạt động của Ban thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân tại cấp xã, phường, thị trấn được quy định như sau theo Điều 12 và Điều 15 Nghị định 59/2023/NĐ-CP:
- Tuân thủ pháp luật: Các hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân phải tuân thủ theo quy định của pháp luật. Việc tuân thủ pháp luật là cơ sở quan trọng để Ban Thanh tra nhân dân có thể hoạt động một cách hợp lý, công bằng và minh bạch, từ đó đảm bảo rằng các quyền và lợi ích của cộng đồng được bảo vệ và thực hiện đúng đắn.
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ban Thanh tra nhân dân không được ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đối tượng được kiểm tra hoặc giám sát. Các thành viên của ban cũng không được lợi dụng nhiệm vụ và quyền hạn để thúc đẩy hoặc thực hiện các hành vi trái pháp luật.
- Quyết định theo đa số và làm việc tập thể: Ban Thanh tra nhân dân thực hiện các quyết định dựa trên nguyên tắc đa số và làm việc theo chế độ tập thể. Điều này nhằm đảm bảo tính minh bạch và đồng thuận trong quyết định của ban.
- Phối hợp với Nhân dân và các cơ quan chính quyền địa phương: Ban Thanh tra nhân dân thường xuyên liên hệ và phối hợp chặt chẽ với Nhân dân để tiếp nhận và phản hồi ý kiến phản ánh kịp thời. Đồng thời, ban cũng giữ mối liên hệ chặt chẽ với Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã để giải quyết ý kiến phản ánh của Nhân dân theo thẩm quyền hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Tạo điều kiện thuận lợi: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình. Điều này nhằm đảm bảo ban có thể hoạt động một cách hiệu quả và có ích nhất đối với cộng đồng địa phương.
Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết: Ban thanh tra nhân dân là gì? Nhiệm vụ ban thanh tra nhân dân?
Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tới địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!