1. Thị trường chứng khoán là gì?

Thị trường chứng khoán là một tập hợp bao gồm những người mua và người bán cổ phiếu (hay chứng khoán), thứ đại diện cho quyền sở hữu của họ đối với một doanh nghiệp; chúng có thể bao gồm các cổ phiếu được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán đại chúng, hoặc những cổ phiếu được giao dịch một cách không công khai, ví dụ như cổ phần của một công ty tư nhân được bán cho các nhà đầu tư thông qua các nền tảng gọi vốn cộng đồng. Những khoản đầu tư trên thị trường chứng khoán hầu hết được thực hiện thông qua môi giới chứng khoán và nền tảng giao dịch điện tử.Tổng vốn hóa thị trường của thị trường chứng khoán toàn cầu đã tăng từ 2,5 nghìn tỷ USD vào năm 1980 lên 68,65 nghìn tỷ USD vào cuối năm 2018. Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2019, tổng vốn hóa thị trường của toàn bộ số cổ phiếu toàn cầu đã đạt mức xấp xỉ 70,75 nghìn tỷ đô la MỹCó 60 sàn giao dịch chứng khoán trên toàn thế giới. Trong số đó, có 16 sàn giao dịch có vốn hóa thị trường đạt mức 1 nghìn tỷ USD trở lên, chiếm tỷ lệ 87% vốn hóa thị trường toàn thế giới. Ngoài Sàn giao dịch chứng khoán Úc, 16 sàn giao dịch này đều nằm tại Bắc Mỹ, châu Âu và châu Á.Theo quốc gia, thị trường chứng khoán lớn nhất nằm Hoa Kỳ (khoảng 34%), theo sau là Nhật Bản (khoảng 6%) và Vương quốc Anh (khoảng 6%).

1.1. Phân loại thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Tại thị trường sơ cấp, đây là nơi cổ phiếu lần đầu phát hành ra công chúng từ công ty cổ phần, giúp công ty có thể huy động vốn trên thị trường chứng khoán. Với thị trường thứ cấp, đây là nơi cổ phiếu được mua bán lại sau khi phát hành sơ cấp, vì vậy sẽ không có tiền mới được sinh ra, mà chỉ là thay đổi quyền sở hữu cổ phiếu giữa người mua và người bán.

1.2. Lợi ích của thị trường chứng khoán


Đối với nền kinh tế

Chứng khoán và thị trường chứng khoán là thước đo sức mạnh của nền kinh tế. Các chỉ số đo lường thị trường hay giá cổ phiếu của các công ty thể hiện liệu nền kinh tế đang trong giai đoạn tốt hay không. 

Chính phủ nhờ vào thị trường chứng khoán sẽ kiểm soát tốt hơn tình hoạt động cũng nền kinh tế cũng như hoạt động của các công ty niêm yết (các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán sẽ phải công khai tình sản xuất kinh doanh, công bố thông tin định kỳ ...).

Đối với doanh nghiệp

Để huy động được các nguồn vốn dài hạn bên cạnh việc đi vay ngân hàng, các công ty đã thực hiện huy động thông qua hình thức phát hành các chứng khoán. Đây chính là kênh mang lại nguồn vốn dồi dào từ công chúng giúp các công ty phát triển kinh doanh.

Đối với nhà đầu tư

Thị trường chứng khoán là nơi tiềm năng đề đầu tư. Việc đầu tư vào cổ phiếu trên thị trường thường có rủi ro nên bắt buộc nhà đầu tư phải có cách quản lý chặt chẽ, tìm hiểu thật kỹ trước khi tham gia.

Một trong những lợi ích chính của việc đầu tư vào thị trường chứng khoán là cơ hội để tìm kiếm lợi nhuận. Thị trường chứng khoán có xu hướng tăng theo sự phát triển của nền kinh tế hay sự tăng trưởng của các công ty. Đầu tư vào các công ty ổn định, có xu hướng phát triển có thể tạo ra lợi nhuận cho nhà đầu tư.

2. Lịch sử hình thành Ủy ban chứng khoán nhà nước

Ngày 6 tháng 11 năm 1993, thành lập Ban Nghiên cứu xây dựng và phát triển thị trường vốn thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Quyết định số 207/QĐ-TCCB ngày 6/11/1993 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước) với nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng đề án và chuẩn bị các điều kiện để thành lập TTCK theo bước đi thích hợp.Tháng 9 năm 1994, Chính phủ thành lập Ban soạn thảo Pháp lệnh về chứng khoán và TTCK do Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Tế làm Trưởng ban, với các thành viên là Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lê Văn Châu (sau đó là Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán), Thứ trưởng Bộ Tư pháp.Ngày 29 tháng 6 năm 1995, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 361/QĐ-TTg  thành lập Ban Chuẩn bị tổ chức TTCK giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xây dựng TTCK ở Việt Nam. Ban Chuẩn bị tổ chức TTCK có nhiệm vụ:
- Soạn thảo các văn bản pháp luật về chứng khoán và TTCK;
- Soạn thảo Nghị định của Chính phủ về thành lập Ủy ban Chứng khoán Nhà nước;
- Chuẩn bị cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước, quản lý thị trường, kinh doanh về chứng khoán;
- Hợp tác với các nước và tổ chức quốc tế trong việc tổ chức TTCK ở Việt Nam;
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước được thành lập ngày 28 tháng 11 năm 1996 theo nghị định 75/cp của Chính phủ Việt Nam, ban đầu đây là một Ủy ban thuộc điều hành của Chính phủ, do ông Lê Văn Châu làm Chủ tịch
Lúc đầu, để khuyến khích các doanh nghiệp niêm yết, Ủy ban Chứng khoán đã trình Bộ Tài chính Việt Nam và được đồng ý cấp khoản kinh phí 100 triệu đồng "ngoài luồng" cho công tác vận động doanh nghiệp niêm yết và tổ chức các chiến dịch có quy mô hơn với mục tiêu thu hút doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán .Đặc biệt, Ủy ban nhân dân Hà Nội và Hải Phòng còn dùng tiền ngân sách để hỗ trợ toàn bộ chi phí tư vấn và kinh phí kiểm toán cho những đơn vị niêm yết đầu tiên. Hải Phòng còn ưu đãi thêm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp cho các công ty đăng ký giao dịch trong vòng 2 năm kế tiếp sau khi hưởng ưu đãi theo quy định chung .
Ngày 19 tháng 2 năm 2004, Chính phủ đã ban hành nghị định 66/2004/NĐ-CP chuyển Ủy ban Chứng khoán Nhà nước vào Bộ Tài chính.

 

3. Nhiệm vụ quyền hạn của Ủy ban chứng khoán nhà nước

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (tên giao dịch tiếng Anh:State Securities Commission of Vietnam) là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính Việt Nam, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán; trực tiếp quản lý, giám sát hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán; quản lý các hoạt động dịch vụ thuộc lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban chứng khoán nhà nước được quy định tại Điều 2 Nghị định 90/2003/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước. Cụ thể là:

Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thuộc Chính phủ quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực quy định tại Nghị định số 30/2003/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan thuộc Chính phủ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:

1. Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ trưởng được Thủ tướng Chính phủ phân công ký các văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán và tổ chức thực hiện các văn bản đó;

2. Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chiến lược, quy hoạch, các chương trình, kế hoạch dài hạn, 5 năm và hàng năm và các dự án quan trọng của ủy ban Chứng khoán Nhà nước; tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, chương trình, kế hoạch sau khi được phê duyệt;

3. Ban hành, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm chuyên môn nghiệp vụ và định mức kinh tế - kỹ thuật được áp dụng trong các tổ chức, đơn vị trực thuộc theo quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán;

4. Cấp, gia hạn, đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép phát hành, niêm yết, kinh doanh và dịch vụ chứng khoán, hành nghề kinh doanh chứng khoán theo quy định của pháp luật;

5. Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, đình chỉ hoạt động hoặc giải thể Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, Sở Giao dịch Chứng khoán, các thị trường giao dịch chứng khoán có tổ chức;

6. Tổ chức, quản lý Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, Sở Giao dịch Chứng khoán và các thị trường giao dịch chứng khoán có tổ chức, các trung tâm lưu ký, đăng ký, thanh toán bù trừ chứng khoán;

7. Quản lý các hoạt động liên quan đến thị trường chứng khoán của tổ chức phát hành chứng khoán, tổ chức niêm yết chứng khoán, tổ chức kinh doanh chứng khoán và tổ chức phụ trợ theo quy định của pháp luật;

8. Thanh tra, kiểm tra và giám sát các đối tượng tham gia hoạt động trên thị trường chứng khoán và xử lý các vi phạm về chứng khoán và thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật;

9. Quản lý các dự án đầu tư và xây dựng thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật; tham gia thẩm định các đề án, dự án quan trọng thuộc lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;

10. Hướng dẫn, tạo điều kiện cho các tổ chức hiệp hội chứng khoán thực hiện mục đích, tôn chỉ và điều lệ hoạt động của hiệp hội; kiểm tra thực hiện các quy định của Nhà nước, xử lý hoặc kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật của hiệp hội chứng khoán theo quy định của pháp luật;

11. Tổ chức nghiên cứu khoa học về chứng khoán và thị trường chứng khoán; đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, viên chức của ủy ban Chứng khoán Nhà nước và các đơn vị trực thuộc, nhân viên kinh doanh chứng khoán và các đối tượng tham gia thị trường chứng khoán;

12. Tổ chức thông tin, tuyên truyền, phổ cập kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán cho các tổ chức và cho công chúng;

13. Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật;

14. Quyết định và chỉ đạo thực hiện chương trình cải cách hành chính của ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo mục tiêu và nội dung chương trình cải cách hành chính nhà nước đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;

15. Quản lý về tổ chức bộ máy, biên chế; chỉ đạo thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của ủy ban Chứng khoán Nhà nước;

16. Quản lý tài chính, tài sản được giao và tổ chức thực hiện ngân sách được phân bổ theo quy định của pháp luật;

17. Thực hiện chế độ báo cáo với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật  trực tuyến qua tổng đài.

Công Ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn!!