Căn cứ vào Điều 9 Bộ luật Lao động năm 2019 thì việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm; Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm.

Như vậy, Quy định về việc làm được coi là có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động mà còn có ý nghĩa đối với tất cả mọi loại lao động trong xã hội, là quy định có tính nguyên tắc về đối tượng của lao động xã hội.

Việc làm là một danh từ chỉ hiện tượng, sự việc qua đó người sử dụng lao động cam kết, phân công, chuyểngiao cho người lao động tham gia quan hệ lao động với mình để thực hiện. Người lao động sử dụng thể lực, trí lực, với những kỹ năng, kỹ thuật, kinh nghiệm, trách nhiệm và cả tình cảm của mình để tạo ra sản phẩm vật chất, tinh thần, giá trị và giá trị sử dụng cho xã hội. Đồng thời, người lao động tạo ra thu nhập cho chính bản thân mình; thu nhập của người lao động thông qua hoạt động lao động với một việc làm hợp pháp là loại thu nhập hợp pháp, minh bạch, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Việc làm có tính quyết định đến số lượng lao động và ảnh hưởng đến chất lượng lao động. Có thể thấy rõ điều này khi một đơn vị sử dụng lao động căn cứ số lượng công việc cần thực hiện để tuyển người lao động và cũng căn cứ vào các công việc đó để lựa chọn người lao động với tay nghề, chuyên môn, trình độ phù hợp.

Luật Minh Khuê phân tích chi tiết quy định của Luật lao động về vấn đề trên như sau:

 

1. Quy định chung về việc làm

Việc làm là một trong những vấn đề xã hội rất dáng được quan tâm của mỗi quốc gia và là mỗi quan tâm trực tiếp của Đảng, Nhà nước và hàng triệu người lao động thiếu việc làm hiện nay. Việc làm là các hoạt động, tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập và việc làm là dạng hoạt động của mỗi cá nhân nhưng lại luôn gắn liền với xã hội và được xã hội công nhận.

Theo quan niệm quốc tế, ILO (International Labour Organization) đưa ra khái niệm người có việc làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật. Khái niệm "Việc làm" còn được đưa ra tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 của các nhà thống kê lao động ILO. Còn người thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ được trả lại làm việc. Ngoài ILO còn có nhiều công ước và khuyến nghị liên quan đến vấn đề việc làm, trong đó có 1 số công ước quan trọng như Công ước số 47 (1935), Công ước số 88 (1948), Công ước 122 (1964), ...

Theo quan niệm của Việt Nam: Sau một khoảng thời gian khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, theo đó quan niệm về việc làm và những vấn đề liên quan như thất nghiệp, chính sách giải quyết việc làm đã có những thay đổi cơ bản. Điều 55 Hiến pháp năm 1992 quy định: "Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động". Từ quan niệm này đã mở ra bước chuyển căn bản trong nhận thức về việc làm. Trên cơ sở này, Luật Lao động Việt Nam đã quy định:

  • Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm điều được thùa nhận là việc làm.

Như vậy, dưới góc độ pháp lý, việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố sau đây:

+ Một là, Việc làm là hoạt động lao động. Điều này được thể hiện bởi sự tác động của sức lao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Yếu tố lao động trong việc làm phải có tính hệ thống, tính thường xuyên và tính nghề nghiệp. Vì vậy, người có việc làm thông thường phải là những người thể hiện các hoạt động lao động trọng phạm vi nghề nhất định và trong thời gian tương đối ổn định.

+ Hai là, Việc làm tạo ra thu nhập. Đây là khoản thu nhập trực tiếp và khả năng tạo ra thu nhập.

+ Ba là, hoạt động này phải hợp pháp. Các hoạt động lao động tạo ra thu nhập nhưng trái pháp luật, không được pháp luật thừa nhận thì không được coi là việc làm. Tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng nhà nước mà pháp luật có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp của các hoạt động lao động được coi là việc làm. Đây là dấu hiệu thể hiện đặc trưng tính pháp lý của việc làm.

- Ý nghĩa của việc làm:

Như chúng ta đã biết, hậu quả của việc thất nghiệp, thiếu việc làm không những ảnh hưởng tới kinh tế - xã hội mà còn đe doạ lớn đối với an ninh và sự ổn định của mỗi quốc gia. Chính vì vậy, ở bất kỳ một quốc gia nào, việc làm đã , đang và luôn là vấn đề gay cấn nhạy cảm đối với từng cá nhân, từng gia đình, đồng thời cũng là vấn đề xã hội lâu dài, vừa cấp bách nếu không được giải quyết tốt có thể trở thành vấn đề chính trị.

Còn trên bình diện pháp lý, việc làm là phạm trù thuộc quyền cơ bản của con người, đóng vai trò là cơ sở hình thành, duy trì và là nội dung của quan hệ lao động. Khi việc làm không còn tồn tại, quan hệ lao động cũng theo đó mà triệt tiêu, không còn nội dung, không còn chủ thể,

Theo thực tế cho thấy các quốc gia nào giải quyết tốt các vấn đề về việc làm thì sẽ thúc đẩy nền kinh tế của đất nước đó phát triển, đồng thời kéo theo sự phát triển về mọi mặt trong xã hôi như là xã hội sẽ ổn định hơn, giáo dục văn hoá cũng phát triển hơn. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia tạo việc làm và tự tạo việc làm có thu nhập từ mức lương tối thiểu trở lên nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, phát triển thị trường lao động.

Như vậy, theo quy định của pháp luật về việc làm, giải quyết việc làm theo điều 9 Bộ luật lao động năm 2019 xác định:

  • Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm;
  • Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm.

 

2. Quy định chung về giải quyết việc làm

Giải quyết việc làm là nâng cao chất lượng việc làm và tạo ra việc làm để thu hút người lao động vào guồng máy sản xuất của nền kinh tế. Giải quyết việc làm không chỉ nhằm tạo thêm việc làm mà còn phải nâng cao chất lượng việc làm. Đây là vấn đề còn ít được chú ý khi đề cập đến vấn đề giải quyết việc làm. người ta chỉ quan tâm, đến khía cạnh thứ hai của nó và là vấn đề tạo ra việc làm.

Để giải quyết việc làm thì trong quá trình sử dụng chúng ta cần biết cách phân loại việc làm để sắp xếp công việc, vị trí cho phù hợp như sau:

+ Theo mức độ sử dụng lao động:

  • Việc làm chính là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn các công việc khác;
  • Việc làm hợp lý là những công việc tạo ra thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm phù hợp với năng lực sở trường của người lao động;
  • Việc làm phụ là những công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất sau công việc chính;
  • Việc làm hiệu quả là việc làm với năng suất chất lượng cao. Đối với tầm vĩ mô việc làm có hiệu quả còn là vấn đề sử dụng hợp lý nguồn lao động tức là tiết kiệm chi phí lao động, tăng năng suất lao động, đảm bảo chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều chỗ làm việc để sử dụng hết nguồn nhân lực.

+ Theo thời gian làm việc của người lao động:

  • Việc làm tạm thời là việc làm được tạo ra trong thời gian người lao động đang tìm một công việc thích hợp với chuyên môn và sở trường của họ;
  • Việc làm đầy đủ là sự thoả mãn nhu cầu về việc làm cho bất kỳ ai có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân. Việc làm đầy đủ căn cứ trên hai khía cạnh chủ yếu là mức độ sử dụng thời gian lao động, mức năng suất và thu nhập. Một việc làm đầy đủ đòi hỏi người lao động làm việc theo chế độ luật định (độ dài thời gian lao động hiện nay ở Việt Nam là 8 giờ/ngày) và không có nhu cầu làm thêm.

Còn hiện tại, ở Việt Nam tình trạng thiếu việc làm cũng đang diễn ra khá thường xuyên, phổ biến. Đây là trạng thái trung gian giữa việc làm đầy đủ và thất nghiệp. Đó là tình trạng có việc làm nhưng do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người lao động có thu nhập thấp, không đủ sống muốn tìm thêm việc làm bổ sung. Theo tổ chức lao động quốc tế ILO thiếu việc làm được thể hiện dưới hai dạng sau đây:

+ Thứ nhất, thiếu việc làm hữu hình:

  • Chỉ hiện tượng lao động làm việc thời gian ít hơn thường lệ, họ không đủ việc làm, đang tìm kiếm việc làm thêm và sẵn sàng làm việc. Cụ thể ở Việt Nam một tuần làm việc dưới 40 giờ, một tháng làm việc dưới 22 ngày là thiếu việc làm;
  • Thước đo thiếu việc làm hữu hình: K1 = (Số giờ làm việc thực tế/Số giờ quy định) x 100 %.

+ Thứ hai, thiếu việc làm vô hình:

  • Đây là trạng thái của những người có đủ việc làm, làm đủ thời gian thậm chí nhiều thời gian hơn mức bình thường nhưng thu nhập thấp không đảm bảo cuộc sống và có nhu cầu muốn làm việc thêm để có thu nhập;
  • Thước đo thiếu việc làm vô hình: K1 = (Thu nhập thực tế / Mức lương tối thiểu hiện hành) x 100 %

Ở Việt Nam hiện nay, ở thời điểm công nghệ 4.0, nền kinh tế thị trường phát triển nhanh và mạnh, hệ quả thất nghiệp là không thể tránh khỏi, vấn đề đặt ra ở đây là phải giải quyết tình trạng thất nghiệp như thế nào. Nhìn từ góc độ của chính sách việc làm, để hạn chế tình trạng thất nghiệp, một mặt phải tạo ra chỗ làm mới, mặt khác phải tạo cơ hội, khả năng cho người lao động tự tạo ra việc làm hoặc gia nhập thị trường lao động, thông qua chính sách hỗ trợ đào tạo, đào tạo lại tay nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng phải có chính sách trợ cấp thất nghiệp cho người lao động.

 

3. Quy định về việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động?

Về vấn đề việc làm, Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm. Người lao động làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và ở bất kỳ lĩnh vực nào mà pháp luật không cấm, trực tiếp liên hệ với người sử dụng lao động hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm để tìm việc làm theo nguyện vọng, khả năng, trình độ nghề nghiệp và sức khoẻ của mình. Người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm, doanh nghiệp cho thuê lại lao động để tuyển dụng lao động, có quyền tăng, giảm lao động phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh.

Theo quy định tại Luật việc làm hiện hành thì khái niệm việc làm được quy định cụ thể như sau: Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm. Trong Luật Việc làm còn quy định việc làm công là việc làm tạm thời có trả công được tạo ra thông qua việc thực hiện các dự án hoặc hoạt động sử dụng vốn nhà nước gắn liền với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên điạ bàn xã, phường, thị trấn.

Theo quan điểm của tổ chức lao động quốc tế (ILO), người có việc làm là người làm việc trong các lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời góp một phần cho xã hội.

Còn theo Bộ luật Lao động năm 2019 có quy định như sau: "Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thoả thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ các trường hợp khác được quy định theo pháp luật. Theo định nghĩa này thì người lao động được giới hạn độ tuổi từ 15 tuổi trở lên. Tuy nhiên, Bộ luật lao động cũng đồng thời đưa ra quy định đối với một số công việc có tính chất đặc biệt, người sử dụng lao động được thuê người lao động dưới 15 tuổi, tuy nhiên phải đáp ứng những điều kiện nhất định.

Việc làm có tính quyết định đến số lượng lao động và ảnh hưởng đến chất lượng lao động. Có thể thấy rõ điều này khi một đơn vị sử dụng lao động căn cứ số lượng công việc cần thực hiện để tuyển người lao động và cũng căn cứ vào các công việc đó để lựa chọn người lao động với tay nghề, chuyên môn, trình độ phù hợp.

Như vậy, để giải quyết việc làm cho người lao động cần phải hoạch định và thực thi chính sách việc làm trong thực tiễn đời sống xã hội. Chính sách việc làm: là tổng thể các quan điểm, mục tiêu, giải pháp và công cụ nhằm tạo việc làm và sử dụng có hiệu quả nguồn lực xã hội. Nói cách khác, chính sách việc làm là sự thể chế hoá pháp luật của Nhà nước lên lĩnh vực việc làm, là hệ thống các quan điểm, phương hướng mục tiêu và giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động.

Pháp luật lao động quy định trách nhiệm trong việc giải quyết việc làm cho người lao động trực tiếp thuộc về chính phủ và các cơ quan hành chính Nhà nước, trách nhiệm trước hết thuộc về Quốc hội và hệ thống các cơ quan quyền lực (Hội đồng nhân dân các cấp). Nội dung của việc giải quyết việc làm cho người lao động bao gồm:

  • Nhà nước định chỉ tiêu việc làm mới trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm và hằng năm. Nhà nước có chính sách hỗ trợ tài chính, cho vay vốn, giảm, miễn thuế và các biện pháp khuyến kích để người có khả năng lao động tự giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển nhiều nghề mới nhằm tạo nhiều việc làm cho người lao động;
  • Nhà nước có chính sách ưu đãi về giải quyết việc làm để thu hút và sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số;
  • Nhà nước có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân trong và ngoài nước, bao gồm cả người Việt Nam định cư nước ngoài đầu tư phát triển kinh doanh nhằm tạo nhiều việc làm cho người lao động. Sử dụng nhiều nhân công Việt Nam, cũng là một trong những điều kiện giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo luật pháp hiện hành.

Nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan Nhà nước trong việc giải quyết việc làm cho người lao động được quy định như sau:

+ Đối với Chính phủ: Chính phủ lập chương trình quốc gia về việc làm, dự án đầu tư phát triển kinh tế xã hội, di dân phát triển vùng kinh tế mới gắn liền với chương trình giải quyết việc làm.

  • Chương trình việc làm bao gồm mục tiêu, chỉ tiêu tạo việc làm mới, các chính sách, nguồn lực, hệ thống tổ chức và các biện pháp bảo đảm thực hiện chương trình. Thủ tướng Chính phủ quyết định chương trình việc làm quốc gia do Bộ Lao động -Thương binh và xã hội đệ trình. Chính phủ quyết định chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch hằng năm và 5 năm do Bộ Kế hoạch và đầu tư chủ trì cùng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các ngành có liên quan xây dựng đệ trình. Bộ Lao động - Thương binh và xã hội có trách nhiệm hướng dẫn kiểm tra và báo cáo chính phủ kết quả Chỉ tiêu thực hiện tạo việc làm mới (hằng năm và 5 năm) và các Chương trình việc làm quốc gia;
  • Lập quỹ quốc gia về việc làm từ ngân sách Nhà nước và các nguồn khác (trợ giúp của các nước, các tổ chức quốc tế và các cá nhân nước ngoài; của các đơn vị và cá nhân trong nước hỗ trợ giải quyết việc làm). Quỹ quốc gia về việc làm được sử dụng vào các mục đích sau: Hỗ trợ các tổ chức dịch vụ việc làm; Hỗ trợ các đơn vị gặp khó khăn tạm thời để tránh cho người lao động không bị mất việc làm; Hỗ trợ cho những đơn vị nhận người lao động để mất việc làm theo đề nghị của cơ quan lao động địa phương; Hỗ trợ quỹ việc làm cho người lao động bị tàn tật và dùng để cho vay với lãi suất thấp để giải quyết việc làm cho một số đối tượng thuộc diện tệ nạn xã hội (mại dâm, nghiện hút ...)
  • Phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm: Nhà nước có chính sách triển khai thành lập và kiểm tra giám sát hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm.

Hằng năm chính phủ trình Quốc hội quyết định chương trình và quỹ quốc gia về việc làm.

+ Đối với uỷ ban nhân dân cấp tỉnh: Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh lập chương trình và quỹ giải quyết việc làm của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và tổ chức thực hiện quyết định đó, đồng thời có trách nhiệm báo cáo về Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài Chính.

  • Định hướng, hỗ trợ và kiểm tra chương trình việc làm của cấp huyện và cấp xã;
  • Lập quỹ giải quyết việc làm (từ các nguồn ngân sách địa phương, khoản hỗ trợ từ quỹ quốc gia về giải quyết việc làm do trung ương chuyển xuống và các nguồn khác) để giải quyết việc làm cho người lao động;
  • Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các chương trình việc làm, việc sử dụng quỹ giải quyết việc làm trong phạm vi địa phương theo các quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định về trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc giải quyết và đảm bảo việc làm cho người lao động, cụ thể như sau:

+ Khi có nhu cầu nhân công lao động:

  • Người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm để tổ chức tuyển chọn người lao động;
  • Người sử dụng lao động phải có trách nhiệm giải quyết việc làm cho một số đối tượng lao động đặc thù, trường hợp nhiều người cùng có đủ điều kiện tuyển dụng thì phải ưu tiên tuyển dụng lao động là thương, bệnh binh; con liệt sĩ, con thương bệnh binh, con em gia đình có công; người tàn tật, phụ nữ, người có quá trình tham gia lực lượng vũ trang, người tham gia lực lượng thanh niên xung phong, người đã bị mất việc làm từ một năm trở lên;
  • Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi hình thức sở hữu phải nhận một tỷ lệ người lao động là người tàn tật, lao động nữ vào làm việc. Doanh nghiệp tiếp nhận số người lao động là người tàn tật vào làm việc thấp hơn tỷ lệ quy định thì hàng tháng phải nộp vào quỹ việc làm cho người tàn tật một khoản tiền theo quy định, nếu cao hơn thì khi sản xuất kinh doanh gặp khó khăn hoặc có dự án phát triển sản xuất sẽ được xét cho vay vốn với lãi xuất thấp hoặc được xét hỗ trựo từ quỹ việc làm. Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ thì được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước.

+ Trong quá trình sản xuất kinh doanh và hoạt động dịch vụ:

  • Người sử dụng lao động phải đảm bảo công việc thường xuyên liên tục theo hợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể, phải có trách nhiệm tổ chức nâng cao trình độ nghiệp vụ cho người lao động theo kịp tiến bộ khoa học kỹ thuật và làm việc có trách nhiệm, hiệu quả cao. Phải đào tạo lại trước khi chuyển người lao động sang làm việc mới trong doanh nghiệp;
  • Khi có sự thay đổi về cơ cấu hoặc công nghệ mà cần phải cho người lao động thôi việc, người sử dụng lao động căn cứ vào nhu cầu của công việc và thâm niên làm việc, tay nghề, hoàn cảnh gia đình và những yếu tố khác của từng người để lần lượt cho thôi việc sau khi đã trao đổi nhất trí với ban chấp hành công đoàn cơ sở và phải công bố danh sách. Trước khi quyết định cho thôi việc phải báo cho cơ quan lao động địa phương biết để cơ quan này nắm được tình hình lao động của địa phương và có kế hoạch hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp hoặc tạo điều kiện giải quyết việc làm cho người lao động mất việc làm.

Trên đây là bài viết tham khảo của công ty Luật Minh Khuê về việc làm và giải quyết việc làm được quy định như thế nào trong Bộ luật lao động năm 2019. Hy vọng bài viết này sẽ cung cấp những thông tin hữu ích đến cho khách hàng.

Mọi vướng mắc hay không hiểu về vấn đề này hay bất kỳ vấn đề pháp lý liên quan nào khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ qua số tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí của công ty Luật Minh Khuê chúng tôi 1900.6162 để nhanh chóng nhận được lời giải đạp kịp thời, dễ hiểu đến từ đội ngũ luật sư và chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm chuyên môn. Rất mong nhận được sự hợp tác của quý khách hàng. Trân trọng!