1. Cơ sở của việc phân định thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ ?

Việc phân định thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ bảo đảm việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; tạo thuận lợi cho các đương sự tham gia tố tụng, tránh sự chồng chéo trong việc thực hiện thẩm quyền giữa các toà án cùng cấp. Ngoài ra, việc phân định thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ còn phải bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự. Trong một số trường hợp, pháp luật quy định cho nguyên đơn, người yêu cầu có quyền lựa chọn một trong các toà án có điều kiện giải quyết vụ việc mà không phụ thuộc vào ý chí của bị đơn, người bị yêu cầu giải quyết việc dân sự. Hiện nay, các quy định tại Điều 39 và Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về phân định thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ cũng dựa trên những cơ sở đó.

2. Quy định về thẩm quyền xét xử của tòa án

Trước tiên, “thẩm quyền xét xử của Toà án" được hiểu là một quyền chuyên biệt được trao riêng cho Toà án, khác với thẩm quyền của các cơ quan khác.

Thẩm quyền xét xử là quyền chung của các toà án không phân biệt phân cấp, phân vùng lãnh thổ.

Thứ hai, “thẩm quyền xét xử của Toà án” còn được hiểu là thẩm quyển riêng của từng toà án cụ thể được phân định theo cấp, theo khu vực hành chính và theo vụ việc. Thẩm quyền riêng của các toà án trong việc xét xử được phân định dựa theo cơ cấu tổ chức của hệ thống toà án gồm:

Thẩm quyền xét xử theo sự việc, theo cấp xét xử như thẩm quyền xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm... Theo quy định của Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2014, thì thẩm quyền xét xử theo cấp của Toà án nhân dân được phân cấp như sau:

1) Thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của các Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng. Giám đốc việc xét xử của các Tòa án khác, trừ trường hợp do luật định.

2, Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền như sau: Phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng.

>> Xem thêm:  Giao dịch dân sự vô hiệu là gì ? Hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu ? Cho ví dụ

Giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng

3. Thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ

Đổi với những tranh chấp, yêu cầu liên quan đến bất động sản sẽ thuộc thẩm quyền của toà án nơi có bất động sản. Bởi lẽ, bất động sản là một loại tài sản gắn liền với đất không thể dịch chuyển được và thông thường các giấy tờ, tài liệu liên quan đến bất động sản sẽ do cơ quan nhà đất hoặc chính quyền địa phương nơi có bất động sản đó lưu giữ. Do vậy, toà án nơi có bất động sản sẽ là toà án có điều kiện tốt nhất để tiến hành xác minh, xem xét tại chỗ tình trạng của bất động sản và thu thập các giấy tờ, tài liệu liên quan đến bất động sản. Đối với các tranh chấp về bất động sản, các bên đương sự không có quyền thoả thuận về việc yêu cầu toà án nơi không có bất động sản giải quyết.

Đối với các vụ việc dân sự khác không phải là tranh chấp, yêu cầu về bất động sản thì toà án có thẩm quyền là toà án nơi bị đơn, người bị yêu cầu là cá nhân cư trú, làm việc hoặc toà án nơi bị đơn, người bị yêu cầu có trụ sở nếu họ là cơ quan, tổ chức. BỊ đơn trong vụ án dân sự, người bị yêu cầu trong việc dân sự là người bị buộc phải tham gia tố tụng, về mặt tâm lý bị đơn, người bị yêu cầu, người đại diện hợp pháp của họ thường không muốn tham gia tố tụng và thường nêu ra những khó khăn để không đến toà án. Việc quy định toà án có thẩm quyền giải quyết là toà án nơi cư trú, làm việc, có trụ sở của bị đơn, người bị yêu cầu sẽ tạo điều kiện thuận lợi để bị đơn, người bị yêu cầu, người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng. Mặt khác, toà án này cũng có khả năng xác minh nẳm được các vấn đề của vụ việc, trên cơ sở đó có đường lối giải quyết phù hợp. Đối với các vụ án dân sự này, các bên đương sự cũng có thể thoả thuận với nhau về việc yêu cầu toà án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc giải quyết.

4. Quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

Hiện nay, các quy định tại Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc phân định thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ được thực hiện theo nguyên tắc này. Tuy nhiên, Điều luật này quy định theo hướng phân định hai loại việc là thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự và thẩm quyền giải quyết việc dân sự của toà án theo lãnh thổ. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp đặc biệt các điểm đ, g, h, i, k, 1, m, n, p, q, r, s, t, u, V, X khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định những ngoại lệ về việc xác định thẩm quyền giải quyết việc dân sự của toà án theo lãnh thổ. Cụ thể là:

- Toà án nơi người gửi đơn cư trú, làm việc, nếu người gửi đơn là cá nhân hoặc nơi người gửi đơn có trụ sở, nếu người gửi đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của toà án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam;

- Toà án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, thoả thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thoả thuận về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;

- Toà án nơi một trong các bên thoả thuận thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thoả thuận thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn;

- Toà án nơi việc đăng ký kết hôn trái pháp luật được thực hiện có thẩm quyền giải quyết yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật;

>> Xem thêm:  Xã hội hoá thi hành án dân sự là gì ? Nguyên tắc của luật thi hành án dân sự

- Toà án nơi cha hoặc mẹ của con chưa thành niên cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn;

- Toà án nơi cha, mẹ nuôi hoặc con nuôi cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi;

- Toà án nơi tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng có trụ sở có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố vãn bản công chứng vô hiệu;

- Toà án nơi cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành án có trụ sở hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án theo quy định của pháp luật.

- Toà án nơi có tài sản có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận tài sản đó có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam;

- Toà án nơi người mang thai hộ cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu liên quan đến việc mang thai hộ;

- Toà án nơi cư trú, làm việc của một trong những người có tài sản chung có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thoả thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã được thực hiện theo bản án, quyết định của toà án;

- Toà án nơi người yêu cầu cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận kết quả hoà giải thành ngoài toà án;

- Toà án nơi cư trú, làm việc của người yêu cầu có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố vô hiệu thoả thuận về chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình; xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình;

- Toà án nơi có trụ sở của doanh nghiệp có thẩm quyền giải quyết yêu cầu huỷ bỏ nghị quyết của đại hội cổ đông, nghị quyết của hội đồng thành viên;

>> Xem thêm:  Thủ tục xét đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài

- Toà án nơi giao kết hoặc thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể đó vô hiệu;- Toà án nơi xảy ra cuộc đình công có thẩm quyền giải quyết yêu cầu xét tính họp pháp của cuộc đình công.

Ngoài những quy định mang tính ngoại lệ nói trên, trong trường họp có nhiều toà án đều có điều kiện giải quyết một vụ việc dân sự thì để tạo điều kiện thuận lợi cho nguyên đơn, người yêu cầu trong việc tham gia tố tụng, Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 còn quy định nguyên đơn, người yêu cầu có quyền lựa chọn một trong các toà án có điều kiện để giải quyết vụ việc. Căn cứ vào quy định này, nguyên đơn, người yêu cầu có quyền lựa chọn toà án giải quyết các vụ việc về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

5. Bình luận về thẩm quyền xét xử của Tòa án

- Thẩm quyền xét xử theo sự việc là sự phân định thẩm quyền giữa tòa án các cấp với nhau và căn cứ vào tinh chất của tội phạm. Việc quy định đúng đắn thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc bảo đảm cho Tòa án xét xử đúng đắn, khách quan vụ án. Nếu thẩm quyền của TAND cấp huyện và TAQS khu vực được quy định hợp lý, chặt chẽ thì phần lớn tội phạm xảy ra sẽ được xử lý kíp thời, phát huy tác được tác dụng giáo dục răn đe và góp phần bảo vệ trật tự xã hội. Việc quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp được căn cứ vào các dẩu hiệu khác nhau:

+ Dấu hiệu thể hiện tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm hoặc của vụ án;

+ Dấu hiệu thể hiện không gian thực hiện tội phạm hoặc hành vi tố tụng;

+ Dấu hiệu liên quan đến các đặc điểm nhân thân của người phạm tội.

- Thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực

TAND cấp huyện là cấp xét xử đầu tiên trong trình tự các cấp xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành. Việc phân định thẩm quyền xét xử cho TAND cấp huyện có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thẩm quyền của Tòa án cấp tính, Tòa án nhân dân tối cao, bởi vì các nhà lập pháp bao giờ cũng bắt đầu từ việc xác định thẩm quyền của các cấp xét xử thấp nhất sau đó mới quy định thẩm quyền của các cấp xét xử cao hơn.

Theo khoản 1 Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về thẩm quyền xét xử của TAND các cấp, TAND cấp huyện có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng trừ những tội phạm sau đây:

>> Xem thêm:  Những trường hợp nào được ủy quyền trong quan hệ dân sự ?

a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

b) Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;

c) Các tội quy định tại các điều 123, 125, 126, 227, 277, 278, 279, 280, 282, 283, 284, 286, 287,288, 337, 368, 369, 370, 371, 399 và 400 của Bộ luật hình sự;

d) Các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

- Thầm quyền xét xử theo vụ việc của TAND cấp huyện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bao gồm các loại tội phạm có mức hình phạt cao nhất theo quy định của Bộ luật hình sự là 15 năm tù trừ những tội phạm được quy định tại điểm a, b, c, d Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Việc tăng thẩm quyền xét xử cho TAND cấp huyện là một giải pháp nhằm giảm lượng án tồn đọng ở tòa án cấp tỉnh và tòa án phúc thẩm TAND tối cao. Đây cũng là một bước cải cách phù hợp với tình hình của ngành tòa án hiện nay khi trình độ chuyên môn của thẩm phán TAND cấp huyện đang từng bước được nâng cao, cơ sở vật chất của ngành tòa án cấp huyện cũng đã đáp ứng được với nhiệm vụ xét xử mới.

- Nếu điều luật có nhiều khoản thì Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử các trường hợp phạm tội thuộc tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm ưọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ các tội phạm được quy định ở các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 268 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử cùng một lần một người phạm nhiều tội, nếu các tội phạm đó thuộc tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ các tội phạm được quy định ở các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 268 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong trường hợp một người đang chấp hành hình phạt theo bản án của bất cứ tòa án cấp nàò mà lại bị truy tố về tội thuộc thẩm quyền xét xử cùa Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc của Tòa án quân sự khu vực thì các Tòa án đó cũng có thẩm quyền xét xử, trừ trường hợp người bị kết án đã bị án tử hình hoặc tù chung thân mà chưa được giảm thời hạn chấp hành hình phạt.

- Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu

>> Xem thêm:  Giao dịch dân sự là gì ? Mục đích, ý nghĩa của giao dịch dân sự ?

Thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh và TAQS cấp quân khu được quy định tại khoản 2 điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo đó, TAND cấp tình có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự không thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực hoặc nhưng vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án cấp dưới mà mình lấy tên để xét xử. Như vậy, Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự sau:

+ Những vụ án hình sự không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực, tức là những vụ án hình sự vê những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, từ những vụ án mà mức cao nhất của khung hình phạt là trên 15 năm tù và những vụ án về các tội xâm phạm an ninh quôc gia; các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; các tội quy định tại các Điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296. 322 và 323 của Bộ luật hình sự;

+ Vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài;

+ Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người. Khi có những vụ án rơi vào các trường hợp nàỵ thì cơ quan điều tra cấp huyện trao đổi với VKS cùng cấp và chuyển hồ sơ vụ án lên cơ quan điêu tra cấp tỉnh để điều tra. Nếu hồ sơ đã chuyển lên thì VKS cấp huyện chuyển vụ án cho VKS cấp tỉnh trước tòa án cấp tỉnh.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, tố tụng dân sự về thẩm quyền của tòa án dân sự phân theo lãnh thổ cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Ms. Hoàng Thị Bích Phương - Chuyên viên tư vấn hỗ trợ pháp lý Công ty Luật TNHH Minh Khuê

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Tòa án là cơ quan nào?

Trả lời:

Tòa án là cơ quan xét xử của quyền lực nhà nước, thực hiện quyền tư pháp. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Tòa án là một cơ quan thực thi pháp luật quan trọng, đồng thời là một phương thức giải quyết tranh chấp.

Câu hỏi: Đương sự là thế nào?

Trả lời:

Đương sự trong vụ việc dân sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự.

 

Câu hỏi: Nguyên đơn dân sự là thế nào?

Trả lời:

Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người tham gia tố tụng khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích côhg cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực phụ ttách hoặc được người khác khởi kiện vụ án dân sự yêu câu toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ