1. Đầu cơ tích trữ là gì?

Đầu cơ tích trữ là việc một cá nhân, tổ chức lợi dụng tình trạng khó khăn khan hiếm hàng hoá để mua tích trữ mặt hàng hoá đó để bán lại trên thị trường với giá cao.

Trên thế giới có khá nhiều vụ đầu cơ xảy ra trong nhiều lĩnh vực như đất đai, ngoại tệ, vàng, nhu yếu phẩm, thiết bị y tế,… Một ví dụ điển hình trong năm 2020 vừa qua chính là hiện tượng nhiều tổ chức, cá nhân lợi dụng tình trạng dịch bệnh covid 19 bùng phát mạnh, nhu cầu mua khẩu trang y tế, nước rửa tay tăng cao đã đầu cơ tích trữ tạo ra tình trạng khan hiếm hàng hoá để bán lại với giá cao gấp 3,4 lần.

Từ khái niệm đầu cơ tích trữ chúng ta có thể hiểu về đầu cơ là gì? Cụ thể đầu cơ là mua vét hàng hóa nhằm bán lại. Đầu cơ là hành vi nguy hiểm cho xã hội, không chỉ gây thiệt hại cho người tiêu dùng do biến động của giá cả mà còn làm cho hoạt động của thị trường căng thẳng, mất ổn định, gây khó khăn cho việc điều tiết thị trường của Nhà nước.

 

2. Các yếu tố cấu thành tội đầu cơ?

Tội đầu cơ được quy định trong Bộ luật hình sự được cấu thành bởi bốn yếu tố sau:

 

2.1. Khách thể của tội đầu cơ:

Khách thể của tội phạm này là trật tự quản lý kinh tế, cụ thể là trật tự quản lý việc lưu thông hàng hóa, chống đầu cơ trục lợi và xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng.

Đối tượng tác động của tội phạm là hàng hóa thuộc danh mục mặt hàng bình ổn giá hoặc thuộc danh mục hàng hóa được Nhà nước định giá. Ví dụ: lúa, gạo, muối, xăng, dầu, xi măng, thép xây dựng,… trừ những hàng hóa vật phẩm là đối tượng tác động của các tội phạm khác đã được quy định thành tội phạm riêng.

 

2.2. Mặt khách quan của tội đầu cơ:

Có hành vi lợi dụng tình hình khan hiếm hoặc tạo ra sự khan hiếm hàng hóa một cách giả tạo trong tình hình thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh hoặc tình hình khó khăn về kinh tế để mua vét hàng hóa (được coi là khan hiếm) có số lượng lớn nhằm bán lại thu lợi bất chính.

- Lợi dụng tình hình khan hiếm: Được hiểu là do điều kiện hoàn cảnh nhất định như thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh hoặc tình hình khó khăn về kinh tế một số loại hàng hóa không đủ cung ứng cho thị trường (ví dụ: Do có dịch nCoV, các loại khẩu trang khan hiếm không đủ để cung cấp cho người tiêu dùng) dẫn đến bị khan hiếm, người phạm tội đã mua vét những hàng hóa bị khan hiếm đó nhằm bán lại thu lợi bất chính.

- Tạo ra sự khan hiếm giả tạo: Được hiểu là trong tình hình thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh hoặc tình hình khó khăn về kinh tế, mặc dù các loại hàng hóa cần thiết không bị thiếu nhưng lợi dụng tình hình này người phạm tội đã tích trữ hàng hóa, găm hàng để tạo ra sự khan hiếm giả tạo để mua vét hàng hóa nhằm để bán lại thu lợi bất chính.

- Mua vét hàng hóa: Được hiểu là hành vi mua hàng để dự trữ với mục đích chờ giá cao hoặc đẩy giá cao lên để bán thu lợi bất chính.

+ Số lượng hàng hóa phải là có số lượng lớn. Nếu số lượng không lớn thì không đủ yếu tố cấu thành tội này. Việc có bán lại hàng hóa hay chưa, có thu lợi hay chưa không phải là dấu hiệu cấu thành bắt buộc.

+ Gây hậu quả nghiêm trọng: Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản. Việc mua vét hàng hóa bán lại nhằm thu lợi bất chính như nêu trên mà không gây hậu quả nghiêm trọng thì cũng không đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Việc gây hậu quả nghiêm trọng ở đây được thể hiện như làm rối loạn thị trường, đẩy giá cả tăng vọt dẫn đến Nhà nước không kiểm soát được; làm ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước, gây hoang mang lo sợ trong một bộ phận nhân dân hoặc gây chết nhiều người do không đủ điều kiện để khắc phục tình trạng dịch bệnh …

 

2.3. Chủ thể của tội đầu cơ:

- Chủ thể của tội phạm này không phải là chủ thể đặc biệt, chỉ cần người có năng lực trách nhiệm hình sự và đến độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật là có thể trở thành chủ thể của tội phạm này.

Chủ thể là pháp nhân: Tổ chức đó phải có tư cách pháp nhân và là pháp nhân thương mại. Chủ thể của tội phạm này là pháp nhân khi các hành vi trên được thực hiện theo chủ trương kế hoạch của pháp nhân như Quyết định của Hội đồng quản trị, thỏa thuận, thống nhất của các thành viên góp vốn nắm quyền lãnh đạo pháp nhân, quyết định của chủ doanh nghiệp và các hoạt động xuất nhập sản phẩm và thanh toán tiền được tiến hành qua hệ thống sổ sách, dữ liệu và tài khoản của pháp nhân.

Đây là một điểm mới của Bộ luật hình sự 2015 so với Bộ luật hình sự 1999, mở rộng về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự.

 

2.4. Mặt chủ quan của tội đầu cơ:

- Người thực hiện hành vi đầu cơ là do cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp), tức là nhận thức rõ hành vi của mình là gây ra sự khan hiếm hàng hóa, làm cho hàng hóa tăng giá, xâm hại tới chính sách quản lý giá cả, chính sách về lưu thông phân phối của nhà nước, lợi ích chính đáng của người sản xuất và người tiêu dùng nhưng vì lợi nhuận nên vẫn mua vét; thấy trước được hậu quả của hành vi và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra hoặc bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.

- Đối với pháp nhân, lỗi cố ý được thể hiện ở việc ban lãnh đạo, điều hành của pháp nhân đã có kế hoạch chỉ đạo, điều hành việc mua vét hàng hóa thuộc danh mục mặt hàng bình ổn giá hoặc thuộc danh mục hàng hóa được Nhà nước định giá.

- Bán lại hàng hóa để thu lợi bất chính không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của Tội đầu cơ, cụ thể là thu được lợi ích vật chất thông qua việc tạo ra sự chênh lệch giữa giá mua và giá bán lại hàng hóa. Mua vét không nhằm bán lại, hoặc mua vét nhằm bán lại không để thu lợi bất chính mà nhằm mục đích khác không phạm Tội đầu cơ mà cấu thành một tội phạm khác. Mục đích thu lợi bất chính bao giờ cũng gắn liền với động cơ vụ lợi và vì vậy có thể coi vụ lợi cũng là một dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của Tội đầu cơ.

 

3. Hình phạt đối với tội đầu cơ?

Tội đầu cơ quy định các khung hình phạt như sau:

Khung 1: Người đầu cơ sẽ chịu mức phạt thấp nhất là phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng. Mức phạt cao nhất của khung là phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bao gồm:

- Mua vét nhằm bán lại để thu lời bất chính với hàng hóa trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;

- Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Đối với pháp nhân thương mại phạm tội thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

Khung 2: Mức hình phạt cao nhất của khung này là bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng. Trong đó mức phạt cao nhất của khung là phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. Tình tiết tăng nặng thuộc một trong các trường hợp sau:

- Có tổ chức;

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

- Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

- Hàng hóa trị giá từ 1.500.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng;

- Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Pháp nhân thương mại phạm tội theo quy định tại khung này thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng;

Khung 3Nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau thì người phạm tội, pháp nhân phạm tội có thể bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

- Mua vét hàng hóa trị giá 3.000.000.000 đồng trở lên;

- Thu lợi bất chính 1.000.000.000 đồng trở lên;

- Tái phạm nguy hiểm.

Trường hợp, pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp nêu trên thì bị phạt tiền từ 4.000.000.000 đồng đến 9.000.000.000 đồng;

d/ Ngoài ra, người phạm tội,còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung: bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Đối với Pháp nhân phạm tội thì còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Như vậy, nếu so sánh quy định của bộ luật hình sự năm 2015 với quy định của luật hình sự trước đó thì có thể thấy rằng các tình tiết định khung trong luật hình sự năm 2015 rõ ràng hơn, được quy định cụ thể bằng giá trị tiền liên quan đến hàng hóa được đầu cơ để có cơ sở pháp lý vững chắc xử lý hình sự đối với tội đầu cơ.

 

4. Xử lý hành vi đầu cơ, tích trữ xăng dầu

Câu hỏi: Thưa luật sư: Gia đình tôi làm nghề kinh doanh sửa chữa ô tô. Vừa qua giá xăng giảm, một người bạn rủ tôi mua dầu và xăng về tích trữ để sau bán với giá hời. Vậy, đây có phải là hành vi phạm pháp không?

Trả lời: Cảm ơn câu hỏi của anh, thay mặt Luật Minh Khuê tôi xin giải đáp câu hỏi như sau:

Xét về mặt pháp lý, đối với hành vi găm xăng dầu theo quy định tại Điều 47, Nghị định 185/2013/NĐ-CP sẽ bị xử phạt từ 5 - 10 triệu đồng. Đặc biệt, người nào có hành vi đầu cơ gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới cộng đồng, hành vi tích trữ số lượng xăng dầu lớn nhưng không bán ra ngoài cho người tiêu dùng thì có thể sẽ bị xử lý hình sự về tội đầu cơ.

Đặc biệt, theo quy định tại Điều 196 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, người nào lợi dụng tình hình khan hiếm hoặc tạo ra sự khan hiếm giả tạo trong tình hình thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh hoặc tình hình khó khăn về kinh tế mua vét hàng hóa thuộc danh mục mặt hàng bình ổn giá, hoặc thuộc danh mục hàng hóa được Nhà nước định giá có trị giá từ 500 triệu đến dưới 1,5 tỷ đồng, nhằm bán lại để thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng thì bị phạt tiền từ 30 - 300 triệu đồng, hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

Phạt tiền từ 300 triệu đồng đến 1,5 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 3 - 7 năm nếu phạm tội có tổ chức; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức đối với hàng hóa trị giá từ 1,5 tỷ đồng đến dưới 3 tỷ đồng; Thu lợi bất chính từ 500 triệu đến dưới 1 tỷ đồng; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Phạt tiền từ 1,5 – 5 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 7 - 15 năm nếu mua găm hàng hóa trị giá 3 tỷ đồng trở lên; Thu lợi bất chính 1 tỷ đồng trở lên; Tái phạm nguy hiểm. Trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội sẽ bị áp dụng hình phạt từ 300 triệu đến 9 tỷ đồng và có thể bị áp dụng cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 1 - 3 năm.

Ngoài ra, việc kinh doanh xăng dầu luôn phải đảm bảo các quy định về an toàn phòng cháy, chữa cháy. Trường hợp tích trữ xăng dầu nhưng lại vi phạm các quy định về phòng cháy chữa cháy, kinh doanh trong lĩnh vực này sẽ bị tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật.

Cụ thể, Nghị định 67/2017/NĐ-CP quy định về việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí dầu mỏ hóa lỏng đã có hiệu lực quy định về các hành vi kinh doanh xăng dầu vi phạm sẽ bị xử phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng nếu cửa hàng bán lẻ xăng dầu không được xây dựng đúng quy định hiện hành về tiêu chuẩn, quy chuẩn của cửa hàng bán lẻ xăng dầu; Cửa hàng xăng dầu trên mặt nước xây dựng không đúng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về yêu cầu thiết kế cửa hàng xăng dầu trên mặt nước.

Bên cạnh đó, Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt trong an toàn phòng cháy chữa cháy còn quy định hạt tiền từ 8 -15 triệu đồng đối với trường hợp không lắp đặt các thiết bị phát hiện và xử lý rò rỉ của các chất, hàng nguy hiểm về cháy, nổ ra môi trường xung quanh; Không có phương án hoặc thiết bị xử lý sự cố bục, vỡ bể chứa, thiết bị, đường ống chứa, đựng, dẫn dầu mỏ, sản phẩm dầu mỏ và các chất lỏng dễ cháy khác.

Phạt tiền từ từ 15-25 triệu đồng đồng đối với một trong những hành vi sản xuất, kinh doanh, san, chiết, nạp chất, hàng nguy hiểm về cháy, nổ mà không có giấy phép; San, chiết, nạp chất, hàng nguy hiểm về cháy, nổ không đúng nơi quy định hoặc san, chiết, nạp chất, hàng nguy hiểm về cháy, nổ sang các thiết bị chứa không đúng chủng loại, không phù hợp với chất, hàng nguy hiểm cháy nổ.

Bên cạnh đó, với trường hợp việc tích trữ xăng dầu lại không đảm bảo các điều kiện an toàn gây ra cháy nổ, thiệt hại đến người và tài sản thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại cho người bị hại.

 

5. Xử lý các hành vi vi phạm khác trong hoạt động kinh doanh xăng dầu

Ngày 26/8/2020, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Nghị định số 99/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí.

Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí quy định tại Nghị định này bao gồm:

- Hành vi vi phạm trong lĩnh vực dầu khí, thăm dò, khai thác dầu khí (bao gồm việc thực hiện các công việc tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ, thu dọn công trình dầu khí, xây dựng, lắp đặt, vận hành công trình khai thác dầu khí, lọc dầu, hóa dầu, xử lý và chế biến dầu khí, tàng trữ, vận chuyển sản phẩm dầu khí và dịch vụ kỹ thuật phục vụ trực tiếp cho các công việc nêu trên);

- Hành vi vi phạm quy định về điều kiện kinh doanh xăng dầu;

- Hành vi vi phạm quy định về kinh doanh xăng dầu;

- Hành vi vi phạm quy định về điều kiện kinh doanh khí;

- Hành vi vi phạm quy định về kinh doanh khí.

Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí.

Nghị định số 99/2020/NĐ-CP quy định các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí bao gồm: hành vi vi phạm trong lĩnh vực dầu khí, thăm dò, khai thác dầu khí; hành vi vi phạm quy định về điều kiện kinh doanh xăng dầu; hành vi vi phạm quy định về kinh doanh xăng dầu; hành vi vi phạm quy định về điều kiện kinh doanh khí; hành vi vi phạm quy định về kinh doanh khí. Đối với các hành vi vi phạm hành chính khác trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí về bảo vệ môi trường; tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hoá; phòng cháy và chữa cháy tại các công trình dầu khí, cơ sở kinh doanh xăng dầu và khí; đăng ký giá, kê khai giá bán xăng dầu và khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG); công khai thông tin về giá bán xăng dầu và khí, Quỹ bình ổn giá xăng dầu thì áp dụng quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan.

Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí tại Nghị định số 99/2020/NĐ-CP thì tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu hình thức xử phạt chính là phạt tiền. Theo đó, mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí là 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân và 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức; mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu và khí là 100.000.000 đồng đối với cá nhân và 200.000.000 đồng đối với tổ chức. Mức phạt tiền quy định tại Nghị định này là mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức, trường hợp hành vi vi phạm hành chính do cá nhân thực hiện thì phạt tiền bằng một nửa mức phạt tiền quy định đối với tổ chức. Ngoài ra, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung; có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.

Theo quy định tại Nghị định số 99/2020/NĐ-CP, đối với các hành vi vi phạm quy định về điều kiện cửa hàng bán lẻ xăng dầu như cửa hàng bán lẻ xăng dầu hoạt động kinh doanh nhưng không bảo đảm duy trì điều kiện phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về yêu cầu thiết kế cửa hàng bán lẻ xăng dầu; sử dụng người quản lý hoặc nhân viên trực tiếp kinh doanh tại cửa hàng bán lẻ xăng dầu không được đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường theo quy định… thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Ngoài ra, phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng và buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm đối với các hành vi vi phạm về điều kiện kinh doanh xăng dầu gồm: Kinh doanh xăng dầu mà không có Giấy phép kinh doanh xăng dầu theo quy định; kinh doanh xăng dầu khi Giấy phép kinh doanh xăng dầu được cấp đã hết hiệu lực; sử dụng Giấy phép kinh doanh xăng dầu của thương nhân khác để kinh doanh xăng dầu; kinh doanh xăng dầu không đúng nội dung ghi trong Giấy phép kinh doanh xăng dầu được cấp. Đặc biệt, phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt này trong trường hợp đối tượng vi phạm kinh doanh theo hình thức kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu, kinh doanh phân phối xăng dầu hoặc tổng đại lý kinh doanh xăng dầu thực hiện hành vi vi phạm hành chính.

Các hành vi vi phạm về giá bán lẻ xăng dầu và quy trình điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu như niêm yết giá bán lẻ xăng dầu không đúng với giá do thương nhân đầu mối hoặc thương nhân phân phối xăng dầu quy định; tự ý điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu không đúng thời điểm thương nhân đầu mối hoặc thương nhân phân phối xăng dầu quy định; không thông báo hoặc không gửi quyết định về giá bán lẻ xăng dầu cho các đơn vị trong hệ thống phân phối xăng dầu trước thời điểm giá có hiệu lực thi hành khi điều chỉnh tăng, giảm giá bán lẻ xăng dầu; không thực hiện đúng quy định về trình tự điều chỉnh giá hoặc không thực hiện đúng quy định về thời gian tối thiểu giữa hai lần điều chỉnh giá liên tiếp khi điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng. Ngoài ra, tùy vi phạm cụ thể còn có thể bị tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu từ 01 tháng đến 03 tháng trong trường hợp vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.

Đối với lĩnh vực kinh doanh khí, Nghị định số 99/2020/NĐ-CP đã bổ sung quy định xử phạt đối với một số hành vi vi phạm về kinh doanh khí của thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu khí, thương nhân sản xuất, chế biến khí như không tổ chức huấn luyện hoặc thuê tổ chức huấn luyện kỹ thuật an toàn cho người lao động tại cơ sở kinh doanh khí theo quy định; sử dụng người quản lý, nhân viên làm việc tại cơ sở kinh doanh khí không được huấn luyện về kỹ thuật an toàn, phòng cháy, chữa cháy theo quy định; kinh doanh LPG chai nhưng không lập sổ theo dõi hoặc cơ sở dữ liệu điện tử ứng dụng công nghệ thông tin theo dõi LPG chai bán cho thương nhân kinh doanh LPG khác hoặc khách hàng sử dụng. Theo đó, các hành vi vi phạm này bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.

Đáng chú ý, Nghị định số 99/2020/NĐ-CP quy định thương nhân phân phối khí, thương nhân là tổng đại lý, đại lý có Giấy chứng nhận đủ điều kiện còn hiệu lực được cấp trước thời điểm Nghị định số 87/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 6 năm 2018 của Chính phủ về kinh doanh khí có hiệu lực thực hiện các hành vi vi phạm trong quá trình hoạt động bị xử phạt như đối với hành vi vi phạm của thương nhân kinh doanh mua bán khí.