1. Quỹ độc quyền là gì ?

Quỹ độc quyền là một tài khoản trong đó các giao dịch nhất định của chính phủ và nhiều tổ chức phi lợi nhuận được xử lý. Các dịch vụ chịu trách nhiệm bởi các quỹ này không liên quan đến các dịch vụ được coi là có quyền đối với khách hàng của họ. Do đó, các tài khoản này hoạt động tương tự như một mô hình kinh doanh. Các dịch vụ phù hợp với một quỹ độc quyền được nhóm theo các điểm tương đồng để đánh giá hiệu suất của chúng.

2. Qũy độc quyền tiếng anh là gì?

Qũy độc quyền: Proprietary fund

3. Sự thật

Các quỹ độc quyền là các tài khoản là một phần của hoạt động kế toán của chính phủ và các tổ chức phi lợi nhuận khác. Các quỹ này kêu gọi các dịch vụ được cung cấp trong các tài khoản này được thanh toán bởi những khách hàng quen của họ, những người sử dụng chúng, về cơ bản hoạt động như một doanh nghiệp. Mặc dù mô hình có thể mang lại lợi nhuận hoặc thua lỗ cho công ty, nhưng hầu hết hoạt động một quỹ độc quyền không đủ điều kiện để kiếm lợi nhuận. Do đó, tình huống lý tưởng là chi phí của nó để cân bằng với doanh thu của nó.

4. Lợi ích

Có một quỹ độc quyền theo dõi các dịch vụ quan trọng nhưng không phải là một yêu cầu để điều hành một doanh nghiệp. Với các dịch vụ tùy thuộc vào các biến số tiêu thụ và các chi phí khác như gas, thực phẩm và tiền lương, quỹ này có thể hoạt động theo cách thức kinh doanh. Ngoài ra, bằng cách trì hoãn các chi phí cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng được hưởng lợi từ việc sử dụng chúng, nó không gây gánh nặng cho người nộp thuế hoặc công ty có biên độ hoạt động có thể là tối thiểu.

5. Các loại quỹ

Có hai loại quỹ độc quyền được sử dụng trong mô hình chính phủ: quỹ doanh nghiệp và dịch vụ nội bộ. Các quỹ doanh nghiệp hoạt động bằng cách tạo ra một dòng tiền để thanh toán cho các dịch vụ bằng cách phát hành phí và lệ phí. Ví dụ về các dịch vụ trong quỹ doanh nghiệp là dịch vụ cấp thoát nước và dịch vụ ăn uống trong khu học chánh. Quỹ dịch vụ nội bộ chiếm các chi phí của tài sản công ty. Tài khoản này định giá khấu hao và trả cho chi phí sửa chữa của các tài sản này. Máy tính, máy photocopy và xe công ty là tài sản được theo dõi theo tài khoản này.

6. Cân nhắc

Không giống như hầu hết các quỹ trong chính phủ và khu vực phi lợi nhuận, các quỹ độc quyền không nhận được chi phí thu hồi từ thuế. Thay vào đó, họ được trả tiền thông qua các dịch vụ hoặc hàng hóa của họ. Họ phụ thuộc vào phí và lệ phí họ cấp cho khách hàng của họ. Các thiết bị được sử dụng để cung cấp các dịch vụ này thường yêu cầu bảo trì và sửa chữa. Những chi phí này, cùng với giá trị khấu hao, được theo dõi và ghi lại. Các giá trị được công bố với tuyên bố hàng năm của quỹ.

Các quỹ độc quyền được sử dụng để giúp thanh toán cho các dịch vụ mà không sử dụng các khoản tiền dành cho hoạt động thường xuyên. Bằng cách sử dụng các nguyên tắc tương tự như một doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có thể trả tiền cho các dịch vụ mà Aren được coi là có quyền đối với khách hàng của mình. Công ty thu phí và khẳng định các khoản phí sẽ tạo thu nhập để trả cho các dịch vụ của mình. Phương pháp này cho phép các công ty quyết định những gì nên được thay thế hoặc nâng cấp - hoặc liệu phí và lệ phí có đảm bảo tăng hay không - bằng cách đánh giá hiệu suất.

Nguyên nhân chính

  • Chính phủ nhượng quyền khai thác tài nguyên nào đó: chính quyền địa phương có thể nhượng quyền khai thác rác thải cho một công ty nào đó hay nhà nước tạo ra cơ chế độc quyền nhà nước cho một công ty như trường hợp chính phủ Anh trao độc quyền buôn bán với Ấn Độ cho Công ty Đông Ấn.
  • Nếu chi phí vận chuyển quá cao, thị trường có thể bị giới hạn trong một khu vực kinh tế nhất định nào đó và nếu trong khu vực đó có một doanh nghiệp cung cấp sản phẩm thì sẽ dẫn đến tình trạng gần như chiếm đoạt quyền trong kinh doanh.
  • Chế độ sở hữu đối với phát minh, sáng chế và sở hữu trí tuệ: một mặt chế độ này làm cho những phát minh, sáng chế tăng theo một thời gian nhất định nhưng mặt khác nó tạo cho người nắm giữ bản quyền có thể giữ được vị trí độc tôn trong thời hạn được giữ bản quyền theo quy định do những văn bản do nhà nước ban hành.
  • Do sở hữu được một nguồn lực lớn: điều này giúp cho người nắm giữ có vị trí gần như trọn vẹn trên thị trường. Một ví dụ điển hình là Nam Phi được sở hữu những mỏ kim cương chiếm phần lớn sản lượng của thế giới và do đó quốc gia này có vị trí gần như đứng đầu trên thị trường kim cương.

Tổn thất phúc lợi xã hội

Do tối đa hóa doanh thu nên doanh nghiệp chiếm đoạt quyền sẽ sản xuất hàng hóa ở mức sản phẩm mà tại đó doanh thu biên bằng với thu nhập biên thay vì sản xuất ở mức sản lượng mà ở đó giá sản phẩm cao hơn nhiều chi phí biên như trong thị trường (cân bằng cung cầu). Khác với thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nơi mà giá bán sản phẩm phụ thuộc vào số lượng sản phẩm do một doanh nghiệp sản xuất ra, trong tình trạng chiếm đoạt quyền giá bán sẽ tăng lên khi doanh nghiệp chiếm đoạt quyền giảm sản lượng. Vì thế lợi nhuận biên sẽ lớn hơn giá bán sản phẩm và cứ một đơn vị sản phẩm sản xuất thêm doanh nghiệp chiếm đoạt quyền sẽ thu thêm được một khoản tiền lớn hơn giá bán sản phẩm đó. Điều này có nghĩa là nếu cứ sản xuất thêm sản phẩm thì doanh thu thu thêm được có thể đủ bù đắp tổn thất do giá bán của tất cả sản phẩm giảm xuống. Mặt khác, nếu áp dụng nguyên tắc biên của tính hiệu quả nghĩa là sản xuất sẽ đạt hiệu quả khi lợi ích biên bằng doanh thu biên, tất nhiên lợi ích biên và chi phí biên ở đây xét trên góc độ xã hội chứ không phải đối với doanh nghiệp độc quyền ta thấy rằng: ở mức sản lượng mà doanh nghiệp chiếm đoạt quyền sản xuất thì lợi ích biên (chính là đường cầu) lớn hơn chi phí biên đồng nghĩa với tình trạng không hiệu quả. Tóm lại, doanh nghiệp chiếm đoạt quyền sẽ sản xuất ở sản lượng thấp hơn và bán với giá cao hơn so với thị trường cạnh tranh. Tổn thất mà xã hội phải gánh chịu do sản lượng tăng lên trừ đi tổng chi phí biên để sản xuất ra phần sản lượng đáng lẽ nên được sản xuất ra thêm đó chính là tổn thất do chiếm đoạt quyền.

Biện pháp sửa đổi

  • Thi hành các chính sách hành chính nhà nước: chính phủ ban hành các văn bản pháp luật nhằm ngăn ngừa một số hành vi xấu như các doanh nghiệp cấu kết với nhau để nâng giá hay hạn chế một số cơ cấu thị trường nhất định có hại đến nền kinh tế của một đất nước. Các nước có thị trường phát triển thường dùng biện pháp này để điều tiết những doanh nghiệp lớn, chiếm thị phần rất cao trong khoảng thời gian dài. Phán quyết của tòa án Mỹ năm 1911 buộc nhóm công ty Standard Oil phải tách ra thành 34 công ty độc lập là ví dụ điển hình.
  • Khuyến khích các công ty phát triển nhờ những chính sách của chính phủ: chính phủ thi hành các chính sách khuyến khích doanh nghiệp phát triển đồng thời phá bỏ những rào cản để các doanh nghiệp mới dễ đầu tư cho quá trình phát triển.
  • Giám sát một cách chặt chẽ: chính phủ có thể đề ra các quy định cưỡng chế doanh nghiệp phải thực thi trong lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp ấy. Đây là biện pháp phổ biến để kiểm soát các công ty thuộc sở hữu nhà nước trong một nền kinh tế mới và đang phát triển.
  • Kiểm soát tài khoản: chính phủ quy định phù hợp với những điều kiện của doanh nghiệp để doanh nghiệp bán sản phẩm đạt được mức doanh thu hiệu quả. Tuy nhiên biện pháp này có một khó khăn cơ bản là chính phủ rất khó xác định mức giá chung của nền kinh tế và dễ dẫn đến một sự lạm phát hay giảm phát không tốt cho nền kinh tế.
  • Mời gọi đầu tư từ nước ngoài làm cho nền kinh tế thị trường trở nên đa dạng hơn, nâng cao tính cạnh tranh cho những doanh nghiệp trong nước duy trì một nền kinh tế ổn định và phát triển trong tương lai.

Độc quyền tự nhiên

Tình trạng độc quyền tự nhiên đến từ chính trong bản chất của thị trường, của ngành nghề cụ thể, dẫn đến việc chỉ có một hoặc một vài doanh nghiệp cung cấp trong ngành. Đó có thể là:

- Lợi thế người dẫn đầu. Doanh nghiệp bạn là người đi đầu tiên trong lĩnh vực ngành, trong khu vực đó, khiến hoạt động cạnh tranh của các doanh nghiệp đến sau khó vượt mặt bạn, dù sản phẩm họ tốt hơn. Ví dụ, dịch vụ internet ở các chung cư, 1 chung cư chỉ có bạn cung cấp và 100% hộ dân đều dùng, bạn tính phí người dùng để vừa đủ có lợi nhuận. Đối thủ đến sau sẽ phải xem xét nếu lợi thế cạnh tranh của họ không vượt xa bạn, việc đầu tư vốn và chi phí để giành khách hàng sẽ cao hơn người đi đầu(bạn) và doanh số ước tính chỉ khoảng 50% hộ dùng, cả hai doanh nghiệp sẽ lỗ nếu cạnh tranh cách này, chỉ người dùng được lợi.

- Lợi thế quy mô. Giả sử ban đầu 2 doanh nghiệp bằng nhau về vốn và công nghệ, nhưng doanh nghiệp bạn làm tốt hơn một chút, khiến lợi nhuận bạn cao hơn, bạn tái đầu tư vào doanh nghiệp nhiều hơn đối thủ, việc tái đầu tư này, qua thời gian sẽ khiến bạn vượt mặt đối thủ bằng việc giảm giá thành, tăng doanh số bán. Về lâu dài đối thủ không thể cạnh tranh lại bạn.

- Các mô hình độc quyền tự nhiên khác rất đa dạng, bạn có thể tự tìm từ kinh nghiệm của bản thân bạn.

Tổn thất phúc lợi

Do chi phí sản xuất ra một đơn vị sản phẩm tăng dần theo quy mô nên chi phí biên của doanh nghiệp độc quyền tự nhiên có xu hướng giảm và luôn thấp hơn chi phí sản xuất trung bình. Tại trạng thái đó sản lượng sẽ thấp hơn và giá cao hơn so với trạng thái cân bằng của thị trường cạnh tranh khi mà giá bán hay lợi ích biên bằng giá sản phẩm. Sự giảm sút sản lượng cũng gây ra tổn thất.

  • Chính phủ quy định cho doanh nghiệp một mức giá sao cho mức giá đó không làm cho nhưng mặt hàng khác có giá tăng theo(tránh hiện tượng ngoại ứng), tránh hiện tượng cùng một lúc hàng loạt mặt hàng tăng giá thì sẽ gây nên bất ổn trong đời sông nhân dân. Cách này xóa bỏ hoàn toàn được doanh thu siêu ngạch của doanh nghiệp và giảm được đáng kể tổn thất nhưng không loại trừ hoàn toàn được nó vì vẫn chưa đạt được mức sản lượng hiệu quả.
  • Chính phủ quy định cho doanh nghiệp một mức giá bằng chi phí sản xuất để đạt mức sản lượng hiệu quả rồi bù đắp lỗ cho doanh nghiệp bằng một khoản hỗ trợ (vd: cho vay với một lãi xuất thấp...). Biện pháp này hoặc sẽ gây méo mó về giá cả nếu sử dụng loại thuế không phải thuế khoán hoặc sẽ làm người đóng thuế thắc mắc nếu áp dụng thuế khoán.
  • Doanh nghiệp sẽ định giá gồm những phần khác nhau: phần thứ nhất đưa ra để phục vụ cho nhưng đối tượng khách hàng co nhu cầu cao đối với sản phẩm đó, sau một thời gian doanh nghiệp sẽ giảm giá sản phẩm để có thể tăng thêm những đối tượng khách hàng tiềm năng, ví dụ điển hình về vấn đề này như hãng điện thoại lớn nhất thế giới Nokia đã giảm giá đối với những dòng diện thoại cao cấp để nhưng khách hàng khác có thể mua với một mức giá phù hợp hơn sau một thời gian bán giá cao cho những người có nhu cầu.