diện tích 4 ha để làm kinh tế trồng cây điều nhưng bị thú rừng phá ko thành công đến năm 2000 vì cuộc sống khó khăn ba mẹ tôi cãi vã nhau rồi mẹ tôi bỏ nhà ra đi dẫn theo 4 người con lúc ấy chưa đủ tuổi vị thành niên. Năm 2005 số đất đó được quy vào diện 327 phủ xanh đồi trọc của lâm trường huyện.
Tôi xin hỏi nếu số đất đó bây giờ cha tôi có ý định muốn bán như vậy các anh em và mẹ tôi có quyền can thiệp hay không?
Vấn đề thứ 2 cũng trong diện tích 4ha phát sinh ra vấn đề, năm 2006 ba tôi cùng 1 người khác trong xóm cùng làm ăn, người kia bỏ vốn ra ba tôi bỏ công sau vụ làm ăn lỗ ba tôi ko có khả năng trả 1/2 số vốn mà người kia đầu tư lúc đầu nên ba tôi đã cắt 1ha đất trong 4h trên để khất nợ, nhưng 2 người tự thoả thuận không ra chính quyền địa phương. Hỏi như bây giờ chúng tôi đã lớn muốn lấy đất đó lại sản xuất hương quả thì có được hay không? Hình thức bồi thường như thế nào? Bổ sung thêm là lúc năm 2006 ba tôi cắt số đất 1 ha đó để khấu trừ 2.500.000 đồng cùng làm ăn bây giờ giá đất là 180.000.000 đồng/1ha mong nhận được hồi đáp của văn phòng xin chân thành cám ơn!
Trả lời:
Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội (thay thế bởi: Bộ luật dân sự năm 2015) quy định:
Điều 108. Tài sản chung của hộ gia đình
Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ.
Điều 109. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình
1. Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thoả thuận.
2. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý.
Do vậy, từ những căn cứ trên các thành viên trong gia đình bạn có quyền ngang nhau trong việc thỏa thuận liên quan đến quyền sử dụng đất của gia đình nhà mình. Tuy nhiên, cần phải xác định: gia đình bạn đã được cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích đất này hay chưa? Bởi nếu chưa được nhà nước thừa nhận quan hệ sử dụng, chưa được cấp GCNQSDĐ thì gia đình bạn không thể chuyển nhượng quyền sử dụng đất này sang cho người khác.
Như bạn cung cấp, bố bạn và người khác cùng làm ăn kinh doanh, người đó bỏ vốn và bố bạn bỏ công sức. Ở trường hợp này, đã thỏa thuận về việc chia lợi nhuận hay xử lý lỗ như thế nào chưa?. Từ đó mới có thể xác định được trách nhiệm của bố bạn khi công việc làm ăn thua lỗ. Về trường hợp bố bạn đã dùng đất để khất nợ vào năm 2006 mà chỉ thỏa thuận bằng miệng tức là chưa hề có sự thỏa thuận nào về trường hợp mua bán hay chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất trên. Do đó gia đình bạn hoàn toàn có thể lấy lại mảnh đất trên.
Về vấn đề trả nợ và bồi thường:
Pháp luật dân sự tôn trọng sự thỏa thuận của 2 bên do vậy bạn có thể thỏa thuận với người đó về mức giá bồi thường, và lãi xuất tương ứng với số năm vay nợ mà gia đình bạn chưa trả, và phải tuân thủ theo quy định của pháp luật dân sự về lãi suất và nghĩa vụ của các bên.
Bộ luật Dân sự 2005 quy định:
Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay
1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.
5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.
Điều 476. Lãi suất
1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.
2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.
Lưu ý: Bài viết này được phân tích trước khi Luật đất đai năm 2024 có hiệu lực. Hiện nay, quyền sử dụng đất của hộ gia đình có nhiều thay đổi nên cần tham khảo các quy định chi tiết tại các bài viết sau:
- Xử lý quyền sử dụng đất của hộ gia đình theo Điều 259 Luật đất đai 2024
- Quyền sử dụng đất của hộ gia đình theo Luật đất đai 2024
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.