Quyền con người của người bị buộc tội được quy định trong Điều 20, Điều 31 Hiến pháp năm 2013. Theo đó, người bị buộc tội nói chung và bị can nói riêng có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, suy đoán vô tội, được xử lý kịp thời, công bằng, công khai, không bị kết án hai lần về một tội phạm...
Quyền con người của người bị buộc tội được quy định trong Điều 20, Điều 31 Hiến pháp năm 2013. Theo đó, người bị buộc tội nói chung và bị can nói riêng có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, suy đoán vô tội, được xử lý kịp thời, công bằng, công khai, không bị kết án hai lần về một tội phạm, bào chữa, được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Để thực hiện quyền con người của bị can, BLTTHS năm 2015 quy định các quyền tố tụng cho bị can. Các quyền tố tụng này là các phương thức để thực hiện quyền con người của bị can, tạo điều kiện pháp lý thuận lợi để thực thi và bảo vệ quyền con người của bị can. Các quyền tố tụng của bị can bao gồm:
2. Quyền được biết lý do mình bị khởi tố
Đây là quyền mới được quy định trong BLTTHS năm 2015, là quyền quan trọng, quyền đầu tiên, ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện các quyền khác của bị can. Bị can là người bị nghi ngờ thực hiện hành vi phạm tội, họ phải được biết lý do mà họ bị nghi ngờ để nắm bắt được thông tin, chủ động trong việc thực hiện quyền bào chữa của mình. Điều này thể hiện sự công bằng, bình đẳng của pháp luật TTHS, tạo điều kiện thuận lợi để người bị buộc tội có thể bảo vệ quyền lợi của mình. Quy định mới có phần thay đổi, nếu trước đây bị can có quyền biết mình bị buộc tội về tội gì, thông qua xem quyết định khởi tố bị can thì bây giờ có quyền biết lý do của việc buộc tội mình. Như vậy, quyền của bị can được mở rộng hơn, tạo cho bị can một vị thế chủ động hơn trong quá trình tố tụng.
3. Quyền được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ
Trong quan hệ tố tụng, mỗi chủ thể khác nhau có quyền và nghĩa vụ khác nhau. Do vậy, việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho các chủ thể khác nhau khi tham gia tố tụng là điều cần thiết, giúp họ chủ động hơn trong việc triển khai các quyền của mình. Việc giải thích quyền và nghĩa vụ không đơn thuần chỉ là nêu các quy định của pháp luật mà phải có sự giải thích cặn cẽ cho bị can nắm được. Bị can có thể yêu cầu giải thích về quyền nghĩa vụ mình chưa hiểu rõ hoặc cách thức thực hiện quyền mà pháp luật quy định cho mình.
4. Quyền được nhận các quyết định tố tụng
Quy định quyền nhận các quyết định tố tụng cho bị can một mặt giúp bị can nắm được tiến trình tố tụng, mặt khác là điều kiện để họ thực hiện quyền bào chữa. Các quyết định tố tụng liên quan đến bị can là quyết định khởi tố bị can, quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, bản kết luận điều tra, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, bản cáo trạng, quyết định truy tố, quyết định đưa vụ án ra xét xử, bản án và các quyết định tố tụng khác theo quy định của BLTTHS. Quy định bị can có quyền được nhận quyết định tố tụng thể hiện sự công khai, minh bạch của tiến trình tố tụng. Để bảo đảm quyền này, các CQTHTT sau khi ban hành phải giao ngay cho bị can trong thời gian sớm nhất. Việc giao nhận các quyết định nêu trên phải được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 BLTTHS năm 2015.
5. Quyền được trình bày lời khai, trình bày ý kiến
Quyền được trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội. Quyền trình bày lời khai là nền tảng quan trọng để thực hiện quyền bào chữa của bị can. Lời khai của bị can là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng của vụ án. Bị can có thể tự do trình bày ý kiến, lời khai của mình. Trình bày lời khai, ý kiến là quyền chứ không phải nghĩa vụ, do vậy bị can có thể khai các tình tiết có lợi cho mình, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội. Điều này có nghĩ họ có thể im lặng khi bị thẩm vấn hoặc yêu cầu cung cấp những thông tin bởi bất kỳ người THTT nào về diễn biến của tội phạm, danh tính của những người tham gia và vai trò của họ trong vụ án. Những người có thẩm quyền điều tra không được sử dụng các biện pháp trái pháp luật để buộc bị can phải khai báo. Sự im lặng, không khai báo của bị can không phải là căn cứ để đưa ra những suy luận bất lợi hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với họ. Có thể nói, việc quy định quyền im lặng hay quyền từ chối khai báo trong TTHS là một trong những bảo đảm từ phía Nhà nước trong việc tôn trọng và bảo vệ tốt hơn quyền con người. Người bị buộc tội không bị ép buộc phải đưa ra lời khai chống lại mình vì thế hạn chế được tình trạng ép cung, dùng nhục hình đối với họ. BLTTHS năm 2015 bổ sung thêm nội dung bị can không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội là một sự thay đổi tích cực, phù hợp với Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam đã tham gia và tiệm cận với những nền tố tụng văn minh trên thế giới.
6. Quyền đưa ra chứng cứ, đồ vật, tài liệu, yêu cầu
BLTTHS năm 2015 có sự thay đổi quan trọng khi bổ sung thêm bị can có quyền đưa ra chứng cứ. Điều này xuất phát từ việc BLTTHS năm 2015 mở rộng, trao quyền cho các chủ thể thuộc bên bị buộc tội, bên bào chữa cung cấp, thu thập, đưa ra chứng cứ. Việc trao quyền thu thập chứng cứ cho hai bên tham gia tố tụng bảo đảm cho giải quyết vụ án khách quan, công bằng, hạn chế sự độc quyền của các CQTHTT trong việc chấp nhận hay không chấp nhận những đồ vật, tài liệu, yêu cầu của các chủ thể khác cung cấp. Quy định bị can có quyền đưa ra chứng cứ, đồ vật, tài liệu, yêu cầu là sự hỗ trợ đắc lực cho việc thực hiện quyền tự bào chữa của bị can.
7. Quyền trình bày ý kiến về chứng cứ, đồ vật, tài liệu, liên quan
Quyền trình bày ý kiến về chứng cứ, đồ vật, tài liệu, liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền THTT kiểm tra, đánh giá. Đây là quyền mới được quy định trong BLTTHS năm 2015. Các chứng cứ tài liệu trong vụ án có liên quan đến bị can bao gồm chứng cứ, đồ vật, tài liệu buộc tội và gỡ tội. Bị can có thể biết được những thông tin về nguồn gốc của chứng cứ, tài liệu, đồ vật, tính xác thực, sự liên quan của chúng đối với VAHS do đó những nhận định ý kiến, nhận định của bị can là cơ sở xác định sự thật của vụ án. Hơn nữa việc được trình bày ý kiến về các chứng cứ, đồ vật, tài liệu có liên quan là phương thức triển khai thực hiện quyền bào chữa của bị can. Đối với các chứng cứ gỡ tội, có lợi cho bị can, bị can có thể thể hiện sự đồng tình, đưa ra nhận định thuyết phục về các chứng cứ, đồ vật, tài liệu đó. Đối với chứng cứ, đồ vật, tài liệu bất lợi cho bị can, bị can cũng có thể phản đối, tự bào chữa cho mình. Trong trường hợp cần thiết, khi có nghi ngờ về các chứng cứ, tài liệu đồ vật là giả mạo, bị làm sai lệch, bị can có thể yêu cầu người có thẩm quyền THTT kiểm tra, đánh giá về tính xác thực, đúng đắn của những vật này. Có thể nói quyền này tạo điều kiện thuận lợi để có thể hiện thực hoá quyền bào chữa và bảo đảm tính khách quan cho tiến trình tố tụng.
8. Quyền đề nghị giám định, định giá tài sản, đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Quyền đề nghị thay đổi người THTT được quy định với mục đích bảo đảm sự vô tư, khách quan của người có thẩm quyền THTT. ĐTV là người tiến hành điều tra, khám phá vụ án, chứng minh tội phạm và người phạm tội. Nếu ĐTV không thực hiện đúng quy định pháp luật, không vô tư khi làm nhiệm vụ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của bị can. KSV tham gia giai đoạn điều tra để thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra, nếu thực hiện không đúng chức trách của mình dẫn đến vụ án bị sai lệch. Do đó, nếu bị can có căn cứ cho rằng những người này không vô tư khi làm nhiệm vụ, bị can có quyền đề nghị thay đổi họ. Quyền đề nghị thay đổi người THTT của bị can thể hiện sự công bằng, công khai, minh bạch trong TTHS.
Kết luận giám định và định giá tài sản đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá trị tài sản, đánh giá mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và các vấn đề khác có liên quan trong việc xử lý vụ án, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của bị can. Do đó, quy định cho bị can quyền được đề nghị giám định, định giá tài sản là phù hợp để họ có thể bảo vệ quyền lợi của mình. Trong trường hợp xét thấy việc giám định, định giá tài sản là cần thiết hoặc khi có nghi ngờ về tính xác thực của kết luận giám định và định giá tài sản, bị can có thể yêu cầu CQĐT tiến hành giám định hoặc định giá tài sản. CQĐT có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, giải quyết yêu cầu đó nếu có căn cứ.
9. Quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa
Quyền bào chữa là phương tiện pháp lý cần thiết để bị can bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong TTHS, chức năng bào chữa tồn tại song song với chức năng buộc tội như là nhu cầu tất yếu khách quan. Bào chữa cũng xuất hiện khi có sự buộc tội và kết thúc khi sự buộc tội kết thúc. Do đó, quyền bào chữa của bị can phát sinh khi có quyết định khởi tố bị can của cơ quan có thẩm quyền THTT. Quyền tự bào chữa của bị can phát sinh ngay khi có quyết định khởi tố bị can. Đối với quyền nhờ người khác bào chữa có đôi nét khác biệt, Điều 74 BLTTHS năm 2015 quy định: “Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can”. Tuy nhiên, trong trường hợp bị can phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia mà cần giữ bí mật điều tra thì thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa muộn hơn so với các trường hợp khác, được tính từ khi kết thúc điều tra (Đoạn 3 Điều 74). Trong giai đoạn điều tra, quyền bào chữa của bị can kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định tố tụng chấm dứt giai đoạn này.
Quyền bào chữa của bị can theo quy định của BLTTHS năm 2015 gồm hai nội dung, đó là quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa. Hai nội dung của quyền bào chữa có tính độc lập tương đối nhưng cũng có quan hệ mật thiết với nhau, bị can có thể sử dụng một trong hai quyền này hoặc sử dụng đồng thời cả hai quyền trên. Quyền tự bào chữa của bị can việc bị can tự mình sử dụng lý lẽ, chứng cứ, tài liệu nhằm chống lại việc buộc tội hoặc nhằm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình. Quyền nhờ người khác bào chữa trong BLTTHS năm 2015 bao gồm 2 khía cạnh: (1) Bị can nhờ người bào chữa để bào chữa cho mình; (2) Trong một số trường hợp đặc biệt nếu bị can không nhờ người bào chữa, CQTHTT cử người bào chữa cho bị can.
Để triển khai thực hiện quyền bào chữa, BLTTHS năm 2015 quy định các quyền tố tụng cụ thể cho bị can như: được biết lí do mình bị khởi tố, nhận quyết định khởi tố bị can, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định thay đổi, hủy bỏ, áp dụng biện pháp ngăn chặn và các quyết định tố tụng khác; trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội; đưa ra chứng cứ, đồ vật, yêu cầu; trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tố tụng kiểm tra, đánh giá; đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu BLTTHS năm 2015 đã bổ sung thêm nhiều quyền tố tụng là cơ sở quan trọng để bị can có thể tự bào chữa, thể hiện ý kiến, quan điểm của mình chống lại việc buộc tội như quyền được đưa ra chứng cứ, đọc ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu. Đây là điểm mới quan trọng trong nỗ lực bảo đảm quyền cơ bản của bị can. Với các quy định này, bị can có khả năng và điều kiện thực tế để chuẩn bị một cách tốt nhất cho việc bào chữa.
Đối với quyền nhờ người khác bào chữa cho mình, BLTTHS năm 2015 có những quy định cụ thể để triển khai quyền này như quy định về diện người bào chữa, quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, bào chữa chỉ định.
Về diện người bào chữa của bị can, theo quy định của BLTTHS năm 2015, người bào chữa chỉ có thể là những người được quy định tại khoản 2 Điều 72 BLTTHS năm 2015 bao gồm: Luật sư; Người đại diện của bị can; Bào chữa viên nhân dân; Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.BLTTHS 2015 mở rộng phạm vi người có thể tham gia bào chữa cho bị can cho trợ giúp viên pháp lý. Với điều kiện thiếu hụt luật sư ở nước ta và tình trạng bị can không có khả năng thuê luật sư là phổ biến thì việc mở rộng phạm vi người bào chữa này phù hợp, bảo đảm nhu cầu nhờ người khác bào chữa của bị can.
BLTTHS năm 2015 mở rộng quyền của các chủ thể thực hiện chức năng bào chữa. Điều này tạo điều kiện cho việc gỡ tội, đối trọng có hiệu quả sự buộc tội của các cơ quan công quyền, góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Quyền của người bào chữa được quy định tại Điều 73 BLTTHS năm 2015.
Một trong những điểm nhấn thể hiện tính nhân văn của quyền bào chữa chính là quy định về một số trường hợp Nhà nước phải chỉ định người bào chữa cho người bị buộc tội. Theo quy định tại Điều 76 BLTTHS năm 2015, nếu người bị buộc tội, người thân thích hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa, cơ quan có thẩm quyền THTT phải chỉ định người bào chữa cho họ trong các trường hợp: (1) Bị can, bị cáo về tội mà BLHS quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình; (2) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.BLTTHS năm 2015 mở rộng đối tượng được hưởng bào chữa chỉ định đối với bị can, bị cáo về tội mà BLHS quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân. Sự thay đổi này thể hiện sự tăng cường bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, bảo đảm tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay của Việt Nam.
Một vấn đề đặt ra là trường hợp bị can, bị cáo bị áp dụng thủ tục rút gọn, do thủ tục này bị rút ngắn về mặt thời gian nên quyền bào chữa của bị can, bị cáo không được bảo đảm. Thời hạn điều tra trong thủ tục rút gọn được quy định là 20 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án. Đây thực sự là một thách thức và khó khăn lớn cho bị can trong việc chuẩn bị để tự bào chữa hoặc liên hệ và mời người bào chữa cho mình. Thời gian quá gấp gáp dẫn đến bị can không mời được người bào chữa hoặc không thể lựa chọn người bào chữa một cách cẩn thận, kỹ càng. Vì vậy, quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong thủ tục rút gọn cần có sự nghiên cứu, sửa đổi một cách hợp lý.
10. Quyền đọc ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội
Quyền đọc ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu. Đây là quyền mới được ghi nhận trong BLTTHS năm 2015, là cơ sở quan trọng để bị can có thể thực hiện quyền bào chữa của mình. Việc đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hoá hoặc bản sao tài liệu liên quan đến việc bào chữa giúp bị can biết mình bị buộc tội gì và bằng những chứng cứ nào. Từ đó, bị can có thể chuẩn bị tốt nội dung để tự bào chữa cho mình. Mặt khác, việc quy định bị can có quyền được xem xét tài liệu sẽ nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền điều tra, giúp khắc phục những thiếu sót và không đầy đủ trong quá trình điều tra cũng như việc tiến hành điều tra được khách quan và toàn diện.
11. Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Ngoài quy định về quyền khiếu nại tại điểm k khoản 2 Điều 60 BLTTHS năm 2015, quyền khiếu nại của bị can còn được chi tiết hóa trong các điều luật từ 469 đến 475 Chương XXXIII BLTTHS năm 2015.
Đối tượng của quyền khiếu nại của bị can trong giai đoạn điều tra là các quyết định của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT các cấp, ĐTV, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra, các hành vi được thực hiện trong hoạt động tố tụng của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT, ĐTV, cán bộ điều tra, người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Để thực hiện hoạt động khiếu nại, BLTTHS năm 2015 quy định các quy định các quyền tố tụng cụ thể cho bị can khiếu nại như: tự mình khiếu nại hoặc thông qua người bào chữa, người đại diện để khiếu nại; được nhận quyết định giải quyết khiếu nại; được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Trong BLTTHS năm 2015, quyền khiếu nại của bị can được bảo đảm ở mức độ cao hơn khi cho phép bị can thông qua người bào chữa, người đại diện để khiếu nại. Sự trợ giúp pháp lý của người bào chữa, người đại diện đối với bị can trong hoạt động khiếu nại là rất cần thiết, hạn chế tình trạng khiếu nại sai trình tự, thủ tục, thẩm quyền và vi phạm thời hiệu.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê
4 sao của 2 đánh giá
Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?
Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?
Cảm ơn bạn đã nhận xét!
Like fanpage Luật Minh Khuê để nhận tin mới mỗi ngày