1. Quy định về chức vụ của Chủ tịch nước
Theo Điều 86 của Hiến pháp năm 2013, Chủ tịch nước giữ vai trò là người đứng đầu Nhà nước, đại diện cho nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong cả lĩnh vực đối nội và đối ngoại. Vai trò này bao gồm việc thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn liên quan đến sự đại diện của Nhà nước trong các vấn đề quốc tế cũng như các vấn đề nội bộ của quốc gia.
Chủ tịch nước được bầu bởi Quốc hội từ số đại biểu Quốc hội, và người giữ chức vụ này có trách nhiệm báo cáo công tác và giải trình về các hoạt động trước Quốc hội. Đây là một phần trong hệ thống giám sát và kiểm soát quyền lực nhằm đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm trong việc thực hiện quyền lực.
Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước đồng thời với nhiệm kỳ của Quốc hội. Điều này có nghĩa là khi Quốc hội kết thúc nhiệm kỳ của mình, Chủ tịch nước vẫn tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của mình cho đến khi Quốc hội khóa mới được bầu ra và hoàn thành việc bầu chọn Chủ tịch nước mới. Quy định này đảm bảo sự ổn định trong quá trình chuyển giao quyền lực và duy trì sự liên tục trong hoạt động của Nhà nước.
Theo điểm 2.4 Mục 2 Phần I Quy định 214-QĐ/TW năm 2020, để đảm nhiệm chức danh Chủ tịch nước, ứng cử viên cần đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn chung của Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư và phải sở hữu các phẩm chất, năng lực đặc biệt. Trước hết, ứng cử viên cần có uy tín cao, đóng vai trò trung tâm trong việc đoàn kết các cơ quan Trung ương, Bộ Chính trị, Đảng và nhân dân, thể hiện khả năng lãnh đạo và thống nhất trong mọi hoạt động chính trị và xã hội.
Ngoài ra, ứng cử viên phải sở hữu năng lực nổi trội, toàn diện trên nhiều mặt công tác, đặc biệt là trong các lĩnh vực đối nội, đối ngoại, an ninh, quốc phòng, và có hiểu biết sâu rộng về công tác tư pháp. Điều này đảm bảo rằng người giữ chức vụ có khả năng xử lý các vấn đề phức tạp liên quan đến quản lý quốc gia và bảo vệ lợi ích của đất nước.
Ứng cử viên cũng cần là trung tâm đoàn kết các lực lượng xã hội và các cộng đồng dân tộc cả trong và ngoài nước, cho thấy khả năng kết nối và hòa hợp các nhóm và tổ chức khác nhau trong xã hội. Lãnh đạo của ứng cử viên cần phải quyết liệt, với khả năng điều hành hiệu quả theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được phân công.
Cuối cùng, ứng cử viên cần có kinh nghiệm thực tiễn đã được chứng minh qua việc đảm nhiệm và hoàn thành tốt nhiệm vụ ở các chức vụ quan trọng như bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ hoặc trưởng ban, bộ, ngành Trung ương. Đặc biệt, ứng cử viên nên đã tham gia Bộ Chính trị trọn một nhiệm kỳ trở lên; trường hợp đặc biệt sẽ do Ban Chấp hành Trung ương quyết định. Những tiêu chuẩn này nhằm đảm bảo rằng người được chọn làm Chủ tịch nước có đủ năng lực, kinh nghiệm và phẩm chất cần thiết để lãnh đạo đất nước hiệu quả.
2. Quyền hạn của Chủ tịch nước gồm những gì?
Chủ tịch nước, theo Điều 88 của Hiến pháp 2013, có các nhiệm vụ và quyền hạn quan trọng, thể hiện vai trò then chốt trong quản lý và điều hành Nhà nước.
- Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh; đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày pháp lệnh được thông qua, nếu pháp lệnh đó vẫn được Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất;
- Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ;
- Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán các Tòa án khác, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định đặc xá; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, công bố quyết định đại xá;
- Quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải thưởng nhà nước, danh hiệu vinh dự nhà nước; quyết định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam;
- Thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh, quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân;
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Ủy ban thường vụ Quốc hội, công bố, bãi bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh; căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp Ủy ban thường vụ Quốc hội không thể họp được, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;
- Tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm; quyết định cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Phong hàm, cấp đại sứ; quyết định đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; trình Quốc hội phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế quy định tại khoản 14 Điều 70 Hiến pháp 2013; quyết định phê chuẩn, gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế khác nhân danh Nhà nước.
3. Quy trình bầu Chủ tịch nước
Quy trình bầu cử Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 được quy định chi tiết tại Điều 31 của Nghị quyết 102/2015/QH13, thể hiện sự nghiêm ngặt và dân chủ trong việc lựa chọn người đứng đầu Nhà nước.
Theo quy định, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ trình danh sách đề cử ứng cử viên để Quốc hội bầu Chủ tịch nước. Trong danh sách này, ngoài những ứng cử viên do Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị, đại biểu Quốc hội cũng có quyền giới thiệu thêm ứng cử viên hoặc tự ứng cử vào chức danh Chủ tịch nước. Những người được giới thiệu có quyền rút khỏi danh sách ứng cử nếu muốn, đảm bảo tính linh hoạt và tự do trong quá trình ứng cử (khoản 1 và khoản 2 Điều 31 Nghị quyết 102/2015/QH13).
Sau khi danh sách ứng cử viên được công bố, đại biểu Quốc hội sẽ thảo luận tại các Đoàn đại biểu Quốc hội. Chủ tịch Quốc hội có thể tổ chức các cuộc họp với các Trưởng đoàn để trao đổi về các vấn đề liên quan đến bầu cử (khoản 3 Điều 31 Nghị quyết 102/2015/QH13).
Tiếp theo, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ báo cáo Quốc hội về kết quả thảo luận tại các Đoàn đại biểu Quốc hội, đồng thời giải trình và tiếp thu ý kiến của các đại biểu. Dựa trên đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội quyết định danh sách ứng cử viên để bầu Chủ tịch nước (khoản 4 Điều 31 Nghị quyết 102/2015/QH13).
Quốc hội sẽ tiến hành thảo luận và biểu quyết thông qua danh sách ứng cử viên. Sau đó, Quốc hội sẽ thành lập Ban kiểm phiếu để thực hiện việc bầu cử. Chủ tịch nước sẽ được bầu bằng hình thức bỏ phiếu kín, đảm bảo tính bí mật và công bằng của cuộc bầu cử (khoản 5, khoản 6 và khoản 7 Điều 31 Nghị quyết 102/2015/QH13).
Khi kết quả kiểm phiếu được công bố, Ban kiểm phiếu sẽ công bố kết quả và Quốc hội sẽ thảo luận, biểu quyết thông qua nghị quyết về việc bầu Chủ tịch nước (khoản 8 và khoản 9 Điều 31 Nghị quyết 102/2015/QH13).
Cuối cùng, sau khi được bầu, Chủ tịch nước sẽ thực hiện lời tuyên thệ trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp. Lời tuyên thệ này được ghi nhận và giám sát bởi Quốc hội, nhân dân và cử tri cả nước trong suốt nhiệm kỳ của Chủ tịch nước (khoản 10 Điều 31 Nghị quyết 102/2015/QH13). Quy trình này không chỉ đảm bảo tính chính danh của người đứng đầu Nhà nước mà còn phản ánh sự kiểm soát và giám sát của các cơ quan nhà nước và toàn xã hội đối với người lãnh đạo cao nhất của quốc gia.
Xem thêm bài viết: Phân tích mối quan hệ giữa Chủ Tịch Nước với các cơ quan nhà nước theo hiến pháp năm 2013
Khi quý khách có thắc mắc về quy định pháp luật, vui lòng liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn nhanh chóng và kịp thời.