Nội dung được sưu tầm và biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162

Bài viết này chúng tôi chia sẻ tới bạn đọc nội dung "quyền là gì? Phân loại quyền" trong cuốn sách "Tài ba của luật sư" của tác giả Nguyễn Ngọc Bích. Mời bạn đọc theo dõi:

1. Quyền là gì?

Quyền là một cái gì vô hình mà mỗi người có và nó cho phép người ấy được đòi một người khác phải làm hay không làm một việc gì đó cho mình. Quyền xuất phát từ hai nguồn. Một là quyền tự nhiên (hay nhân quyền), sinh ra là có, như quyền thở, ăn uống, ngủ nghỉ. Ai cũng có quyền này để mà sống. Và người ta công nhận cho nhau: anh có, tôi cũng có, chúng ta cùng có. Có để mà tồn tại như một con người sống trong một xóm làng. Hai là quyền do xã hội ban cho, gọi là dân quyền, và chúng được luật pháp ban bố. Thí dụ người bán hàng có quyền đòi tiền khi bán. Gốc rễ của quyền là như thế.

Vậy thì theo Bộ luật dân sự tại Điều 15 người ta sinh ra, lớn lên và hoạt động thì có các quyền sau:

- Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản;

- Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đôi với tài sản;

- Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.

Đấy là cách mô tả của luật pháp; trên thực tế, bạn nhớ cách phân loại:

- Nhân thân: gồm có quyền dân sự và quyền gia đình; quy định trong Luật dân sự và Luật Hôn nhân - gia đình;

- Tài sản: gồm có quyền đối nhân, quyền đối vật và quyền về sở hũu trí tuệ.

Các quyền mà một người có do luật pháp ban cho, do người khác nhìn nhận, hay do một hợp đồng quy định, thì một khi có quyền đó rồi luật của các nước khác gọi là “quyền thủ đắc” (acquired rights — droits acquis); tức là một quyền đã nắm giữ. Phải nắm giữ trước đã thì nó mới phát sinh. Tôi nêu từ ngữ này để các bạn biết khi tiếp xúc với luật sư nước ngoài và nếu có dùng ở đây.

2. Sự phân loại các quyền

Các quyền được phân loại như sau:

2.1. Quyền nhân thân

Quyền nhân thân là những quyền mỗi người có vì họ là người. Ngoài những quyền tự nhiên, gọi là nhân quyền, thì quyền nhân thân được qui định trong Bộ luật dân sự từ Điều 24 - 73; chẳng hạn: quyền về tên tuổi, bí mật đời tư, ly hôn, kết hôn, quốc tịch... về an toàn về thân thể…

Khi vận dụng những quyền này, bạn nhớ phân biệt những quyền đó được quy định ở đâu và được bảo vệ theo luật nào (ngành luật), cái đó sẽ là cơ sở pháp lý để... “ta ăn nói hộ”.

2.2. Quyền tài sản

Trong Bộ luật dân sự, các quyền về tài sản được phân ra thành các chủ đề: tài sản và quyền sở hữu, bảo vệ quyền sở hữu và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Đấy là cách quy định trong văn bản.

Trong cách tiếp cận của luật sư, tài sản được quy về một cái gốc là con người hay được buộc vào “cá nhân". Và khi nằm trong tay cá nhân thì tài sản biến thành quyền lợi của họ và nó được định nghĩa là “quyền lợi của một người là những thứ họ có thể buộc người khác làm”. Sở dĩ vậy là vì quyền tài sản là quyền lợi giúp người ta sinh tồn. Sống trong xã hội, người ta phải giao dịch với những người khác; họ cần có những lợi ích vật chất để sống, để giữ gìn, hầu giao dịch được. Quyền tài sản giúp họ thỏa mãn nhu cầu giao dịch này.

Quyền thì phải được sử dụng đối với ai; tức là quyền phải có đối tượng. Dựa trên cơ sở này, quyền tài sản được chia thành ba loại: (i) quyền đối nhân, là quyền mà một người có thể buộc người khác làm gì đó cho mình; (ii) quyền đối vật, là quyền mà người ấy có thể làm đối với tài sản của mình; hoặc quyền được hành xử trực tiếp trên tài sản; và (iii) quyền trí tuệ, là quyền được làm đối với những gì do trí tuệ của họ tạo ra.

2.3. Quyên đối nhân

Quyền đối nhân là quyền của một người khiến cho họ có thể buộc một người khác phải làm hay không được làm một cái gì đó cho mình. Thí dụ, bạn thuê nhà thì chủ nhà có bổn phận sửa chữa căn nhà bạn thuê khi nó bị hư hỏng; bạn cho một người vay tiền thì người ấy phải trả lại số tiền đó cho bạn; bạn mướn nhà thì không được sửa đổi cấu trúc căn nhà vốn là một quyền của chủ nhà. Quyền đối nhân cũng còn được gọi là trái quyền.

Quyền đối nhân có ba yếu tố là:

- Người được làm, còn gọi là chủ nợ, hay chủ thể tích cực của quyền đối nhân;

- Người phải làm, tức là con nợ, chủ thể tiêu cực của quyền đối nhân;

- Việc phải làm, tức là món nợ, là đối tượng của quyền đối nhân.

Sự phân chia này có tính lý thuyết, trên thực tế bạn chỉ cần biết và phân biệt chúng ra để không bị nhầm.

2.4. Quyền đối vật

Quyền đối vật là quyền mà một người được sử dụng đối với một vật gì đó. Vật là tài sản. Quyền này cho bạn được hành xử trực tiếp trên một tài sản nhất định. Thí dụ bạn đã mua một cái ghế bố; bạn được ngồi trên cái ghế mà bạn đã mua, không ai có thể đuổi bạn đi được. Nói cách khác, tôi có một quyền đối vật với cái ghế bố của tôi; bạn ngồi vào, tôi có quyền đuổi bạn đi.

Nó có hai yếu tố là (i) con người, chủ thể của quyền, và (ii) vật, tức là đối tượng bị con người tác động.

Quyền đối vật được chia thành quyền chính yếu và quyền phụ thuộc.

Quyền đối vật chính yếu gồm có:

- Quyền sở hữu, trong đó có ba yếu tố, gọi là ba quyền, có thể tách rời nhau là quyền sử dụng, chiếm hữu và định đoạt. Nội dung của quyền này được Bộ luật dân sự quy định từ Điều 163 - 173.

Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề, quy định trong Điều 273 - 279 Bộ luật dân sự, ngày xưa ở miền Nam gọi là quyền địa dịch (servitude trong tiếng Pháp). Quyền này là quyền mà một người (tên A) có trên một miếng đất của người khác (tên B) vì đất của A liền với đất của B và vì nhu cầu và trật tự của cuộc sống B phải nhượng bộ A, hay phải để cho A được làm gì đối với miếng đất của mình. Nó cho A được hưởng một quyền trên đất của B. Thí dụ, A và B có hai miếng đất nằm kề nhau, A ở phía trong, B ở phía ngoài. B bị buộc phải cho A đi qua miếng đất của mình để vào nhà của A. Nói cách khác, nó là một quyền của một người đối với một miếng đất của người khác; nó liên quan đến các miếng đất bên cạnh và không thể tách rời khỏi miếng đất đó.

Quyền sử dụng đất là một quyền lợi liên quan đến việc sử dụng đất do Luật Đất đai ấn định. Khi sử dụng quyền này, người sử dụng đất có năm quyền chính là: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và thừa kế.

Quyền đối vật phụ thuộc gồm có:

- Quyền cầm cố dành cho động sản;

- Quyền thế chấp dành cho bất động sản.

Các quyền này được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, thường là trả nợ. Người nhận cầm cố hay thế chấp không có quyền sở hữu đối với các tài sản của người cầm cố hay thế chấp. Nhưng nếu người đã thế chấp không thực hiện nghĩa vụ thì người nhận thế chấp được quyền đem bán đấu giá tài sản để trừ nợ.

Khi nói đến quyền sở hữu, bạn cần nhớ là quyền đó có thể đem ra đối kháng với mọi người, tức là buộc mọi người phải tôn trọng, ai vào nhà bạn là bạn có thể đuổi ra chẳng hạn. Ngoài ra, người chủ được theo dõi đồ vật và được ưu tiên bồi hoàn khi đồ vật bị bán đi. Tuy nhiên nó bị hạn chế khi bị trưng dụng, trung mua, quốc hữu hóa, tịch thu và bị giới hạn bởi bất động sản liền kề.

2.5. Sự khác biệt giữa quyền đối vật và đối nhân

Vấn đề

Quyền đối nhân

Quyền đối vật

Phạm vi

Chỉ có thể đòi được từ một người nhất định, ai có nợ thì chỉ người ấy trả.

Có thể đòi mọi người phải tôn trọng quyền của mình.

(Ớ bên Mỹ, bạn vào nhà một người khác thì có thể bị chủ nhà bắn)

Hiệu lực

Người nắm quyền chỉ có thể đòi người thiếu nợ mà thôi, không được quyền theo dõi đồ vật.

Không có quyền ưu tiên như người nắm quyền đối vật.

Người nắm quyền (chủ thể) có quyền đòi ai nắm cũng phải trả lại; vẫn có quyền thu lợi từ bất động sản dù cho ai có quyền định đoạt nó.

Có quyền ưu tiên, khi có tranh chấp đòi nợ thì được quyền thu nợ trước những chủ nợ khác.

Đối tượng

Không phải thi hành trên một vật nhất định có cá tính mà chỉ bắt người thiếu nợ phải trả món nợ mà thôi.

Thi hành trực tiếp trên một đồ vật nhất định có cá tính (cầm xe Honda thì xe phải có số, và chỉ được bán xe đó).

Sự phân chia như thế này có tác dụng thực tế là khi khách đến nhờ bạn đòi nợ ai, thì bạn chú trọng ngay vào con nợ, ông A, chứ không phải ai khác. Nếu cậu em trai nói với bạn “đòi nợ nó không được thì đòi mẹ nó”; vì bạn biết đòi nợ là một quyền đối nhân nên bạn sẽ bảo rằng không được; không phải nghĩ ngợi lâu la. Bạn không bị lẫm lẫn về đối tượng. Một người khác đến nói với bạn rằng tôi cho A thuê nhà, ông ta cho B thuê lại không báo cho tôi biết. Vậy tôi có thể đuổi ông B kia được không? Bạn sẽ nghĩ ra ngay rằng, cái nhà là quyền đối vật; vậy bạn sẽ bảo đuổi được; chẳng những ông B mà bất cứ ai cũng có thể bị đuổi. Bạn thấy cách thức người ta sắp xếp luật khi dạy sẽ giúp bạn thực thi luật dễ hay khó, nhanh hay chậm.

2.6. Quyền sở hữu trí tuệ

Quyền đối nhân và đối vật đã có từ xưa, thời La Mã họ gọi là just ad rem (đối nhân), just in re (đối vật). Quyền sở hữu trí tuệ chỉ phát sinh vào cuối thế kỷ XVIII khi khoa học kỹ thuật tiến bộ. Nó gồm có những quyền là:

- Quyền tác giả;

- Quyền sở hữu công nghiệp; là quyền đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa.

- Quyền chuyển giao công nghệ.

Để riêng ra thì người ta phân biệt như thế, nhưng chung tất cả lại thì gọi là quyền sở hũu trí tuệ. Có luật riêng cho lãnh vực này. Ở Việt Nam, lúc đầu chúng là một phần của Bộ luật dân sự, sau này có Luật Sở hữu trí tuệ.

Tóm lại, quyền mà một người có thì xuất phát hay bắt nguồn ở tư cách của họ. Tư cách cộng với quyền tạo nên cơ sở pháp lý và nó giống như một người đứng trên khối đá vuông, tay cầm dù. Tất cả chúng ta trên đời này đều như thế cả; ngoại trừ cây dù to hay nhỏ tùy theo các khối đá khác nhau. Khối đá và cây dù kia từ đâu mà ra? Thưa, do luật nhân quyền và dân quyền.

Trên đây là sưu tầm của chúng tôi chia sẻ tới bạn đọc. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập