1. Khái niệm chung về quyền sở hữu trí tuệ.

Thuật ngữ “sở hữu trí tuệ” thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa các cá nhân, tổ chức đối với tài sản trí tuệ giúp xác định tài sản đó thuộc về hay bị chiếm đoạt bởi một tổ chức, cá nhân cụ thể nào đó. Quyền sở hữu trí tuệ là sự định hình các quan hệ sở hữu trí tuệ bằng pháp luật. Hiện nay, hệ thống phá luật quốc tế và quốc gia Việt Nam vẫn chưa quy định trực tiếp về khái niệm quyền sở hữu trí tuệ mà chỉ liệt kê các quyền sở hữu trí tuệ điển hình. Theo đó, tại Điều 2 (viii) Công ước thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) quy định rằng quyền sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền đối với: các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ biểu diễn, các bản ghi âm và chương trình phát thanh, truyền hình; sáng chế trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người;... Tương tự, tại Việt Nam, khoản 1 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi năm 2019 cũng quy định: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân, đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”.
Về đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ, trước tiên, khách thể của quyền sở hữu trí tuệ là tài sản trí tuệ - tài sản vô hình, chủ thể quyền khó kiểm soát, khó ngăn chặn chủ thể khác khai thác, sử dụng quyền của mình. Vừa là quyền dân sự nhưng chứa đựng nhiều khía cạnh thương mại đồng thời hoạt động thực thi quyền cũng ảnh hưởng trực tiếp tới sự cạnh tranh trên thị trường. Quyền sở hữu trí tuệ không phải là quyền tuyệt đối (độc quyền có điều kiện), nó chỉ được bảo hộ trong một được bảo hộ trong phạm vi lãnh thổ cụ thể và có thời hạn nhất định, và để được bảo hộ thì phải bộc lộ đủ thông tin quyền gắn kèm với nghĩa vụ. Việc thực thi quyền không được gây ảnh hưởng, thiệt hại cho lợi ích của nhà nước, xã hội và các tổ chức, cá nhân khác.

 

2. Ảnh hưởng của quyền sở hữu trí tuệ tới môi trường cạnh tranh.

Cạnh tranh luôn là yếu tố sống còn đối với mỗi doanh nghiệp, điều đó càng trở nên quan trong hơn trong cuộc các mạng công nghệ 4.0 khi mà các doanh nghiệp liên tục cải tiến, tập trung vào những giá trị cốt lõi của mỗi doanh nghiệp. Trong đó, những tài sản sở hữu trí tuệ trở thành một nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp đồng thời nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp trong thị trường và phát triển kinh tế quốc gia.
Tuy nhiên, bên cạnh những sự tác động tích cực tới cấu trúc thị trường, tính cạnh tranh của nền kinh tế, hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ còn mang đến những ảnh hưởng tiêu cực. Điều này xuất phát từ chính các quy định của pháp luật liên quan đến việc thừa nhận và bảo vệ sự độc quyền của quyền sở hữu trí tuệ và bởi hành vi lạm dụng của chủ sở hữu.
 

2.1 Quy định của pháp luật.

Đầu tiên là quy định về cơ chế hết quyền đối với quyền sở hữu trí tuệ, theo cơ chế này khi một sản phẩm gắn với tài sản sở hữu trí tuệ đã được đưa vào lưu thông bởi chính chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu cho phép thì chủ sở hữu sẽ mất quyền kiểm soát và khai thác thương mại đối với sản phẩm mang tài sản trí tuệ đó. Như vậy, đây là một phương tiện cần thiết để cân bằng quyền lợi giữa chủ sở hữu tài sản trí tuệ và người tiêu dùng, cộng đồng giúp gián tiếp bảo vệ quyền tự do cạnh tranh. Tuy nhiên, khi quốc gia không áp dụng hết cơ chế này trên phạm vi quốc tế mà chỉ áp dụng cơ chế hết quyền trong phạm vi quốc gia hoặc khu vực thì những vấn đề tác động đến môi trường cạnh tranh vẫn xuất hiện.
Bên cạnh cơ chế hết quyền đối với quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế bảo hộ độc quyền sở hữu trí tuệ dẫn đến độc quyền về giá cũng gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường cạnh tranh. Khi một chủ thể nắm độc quyền đối với một sản phẩm nhất định, đặc biệt là những sáng chế tạo ra những sản phẩm khó có thể thay thế sẽ dẫn đến độc quyền về giá. Điều  này đã thể hiện rất rõ trong khoảng thời gian đầu của đại dịch covid-19, đó là cuộc chiến về vắc xin chống covid, khi mà chỉ một số hãng dược lớn trên thế giới nghiên cứu, sản xuất được vắc xin đã dẫn đến sự độc quyền về giá với giá bán cho mỗi liều vắc xin khi đó là vô cùng cao và hệ quả là đã không có một sự phân phát đều lượng vắc xin trên thế giới khi những quốc gia phát triển với sức mạnh kinh tế lớn thì thậm chí thừa vắc xin nhưng những quốc gia đang phát triển và kém phát triển thì lượng người được tiêm chủng vẫn cực kỳ thấp.
Quy định về hạn chế cạnh tranh thông qua việc ngăn cản các nghiên cứu phát triển tiếp theo cũng mang đến những ảnh hưởng đối với môi trường cạnh tranh, theo đó, chủ sở hữu bắt buộc phải chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho một bên khác trong trường hợp bên đó cần vận dụng sáng chế được bảo hộ để tạo ra một sáng chế mới nhưng với điều kiện bên đó phải chứng minh được sáng chế mới phải tạo ra một bước tiến mới, có giá trị kinh tế lớn hơn sáng chế ban đầu. Điều này cũng được ghi nhận tại điều 137 Luật Sở hữu trí tuệ. Quy định này đã vô tình tăng thêm độc quyền cho chủ sở hữu sáng chế và làm giảm đi sự cạnh tranh trên thị trường khi những sản phẩm mới được tạo ra mà chỉ mang lại những giá trị tương đương với sản phẩm ban đầu mặc dù có sự khác nhau trong cơ chế hoạt động sẽ không được chấp nhận chuyển giao bởi chủ sở hữu. Trong thời gian đại dịch covid-19, mặc dù Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và nhiều quốc gia đã kêu gọi các quốc gia cũng như các hãng dược nắm độc quyền đối với vắc xin chia sẻ nghiên cứu nhưng đều bị từ chối bởi không chứng minh được những loại vắc xin mới tạo ra sẽ mang lại hiệu quả lớn hơn so với vắc xin ban đầu
 

2.2 Các hành vi lạm quyền trong quá trình thực thi quyền sở hữu trí tuệ của chủ sở hữu.

Những hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ cũng gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường cạnh tranh bởi hành vi làm dụng quyền của chủ sở hữu. Chủ sở hữu sẽ cố gắng mở rộng giới hạn khác thác quyền sở hữu trí tuệ vượt quá giới hạn cho phép của pháp luật. Tuy nhiên việc chứng minh được những hành vi này là vô cùng khó bởi các tác động đến môi trường cạnh tranh của những hành vi lạm quyền này cần phải được đánh giá dựa trên những yếu tố khác nhau như chiến lược phát triển của quốc gia hay cấu trúc thị trường. Muốn chứng minh được sự lạm quyền trong hành vi của chủ sở hữu đòi hỏi phải có những căn cứ rõ ràng từ các quy định pháp luật để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng khi có những vụ việc cụ thể trên thực tế.

 

3. Xác định hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh do lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ

Mặc dù luôn hiện hữu nguy cơ gây hạn chế cạnh tranh từ việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ, nhưng những hành vi của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chỉ được coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh khi có sự làm dụng quyền sở hữu trí tuệ tức là chủ sở hữu đã cố gắng thực hiện những hành vi vượt quá giới hạn cho phép của pháp luật về sở hữu trí tuệ và gây ra những hệ quả tiêu cực đối với môi trường cạnh tranh, hạn chế cạnh tranh.
Để chứng minh được hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh của chủ sở hữu do lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ thì cần phải chứng minh được hành vi của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ và hậu quả của hành vi đó gây ra đối với môi trường cạnh tranh
Đầu tiên, cần phải chứng minh hành vi thực thi quyền sở hữu trí tuệ vượt quá phạm vi cho phép của pháp luật sở hữu trí tuệ (hành vi lạm quyền). Theo nguyên tắc của pháp luật sở hữu trí tuệ, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chỉ được thực thi quyền của mình trong một phạm vi và thời hạn bảo hộ nhất định theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác cũng như không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan 5 . Như vậy để đánh giá được hành vi vi phạm của chủ sở hữu cần phải chứng minh được hệ quả của hành vi đó, cần xem xét hành vi đã gây ảnh hưởng  đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác hay chưa hoặc xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, lợi ích cộng đồng và hành vi này đã vượt quá giới hạn cho phép của về thực thi quyền sở hữu trí tuệ.
Yếu tố thứ hai cần phải chứng minh đó là sự tác động đến môi trường cạnh tranh. Yếu tố này nhằm xem xét hành vi lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ của chủ sở hữu có gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường cạnh tranh, làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường hay không.
Theo khoản 2 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2018, những hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và lạm dụng vị trí độc quyền.
Dưới góc độ khoa học pháp lý thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được hiểu như sau: “thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống nhất ý chí của từ hai chủ thể kinh doanh trở lên được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào, có hậu quả làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường” . Trong khi đó, khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2018 quy định: “thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là hành vi thỏa thuận giữa các bên dưới mọi hình thức gây tác động hạn chế cạnh tranh. Luật cạnh tranh cũng liệt kế những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, theo quy định tại Điều 11 Luật cạnh tranh 2018, có 11 thỏa thuận được coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, bao gồm:
1) Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;
2) Thỏa thuận phân chia khách hàng, phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ;
3) Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
4) Thỏa thuận để một hoặc các bên tham gia thỏa thuận thắng thầu khi tham gia đấu thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ;
5) Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;
6) Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thỏa thuận;
7) Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;
8) Thỏa thuận áp đặt hoặc ấn định điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho doanh nghiệp khác hoặc thỏa thuận buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;
9) Thỏa thuận không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận;
10) Thỏa thuận hạn chế thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ của các bên không tham gia thỏa thuận;
11)Thỏa thuận khác gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh.
Luật Minh Khuê (tổng hợp)