1. Tư vấn về tranh chấp mua bán đồng sở hữu sổ hồng?

Chào anh chị Nhà em sổ đỏ đứng tên chung là bố em và em trai em, bố em muốn bán nhà nhưng em trai em không đồng ý nên bố em lấy sổ đỏ,hộ khẩu đi cầm lấy tiền, bố em đã ra ngoài ở vậy anh chị cho em hỏi nhà em có bị mất nhà không và làm sao lấy được lại giấy tờ nhà khi không biết bố em ở đâu và bố em cũng không nói nơi bố em đã cầm giấy tờ để chuộc lại. Xin nhờ anh cho tư vấn dùm em, em xin cảm ơn!

Căn cứ theo quy định tại Điều 207 và Điều 210 BLDS 2015 về sở hữu chung:

Điều 207. Sở hữu chung và các loại sở hữu chung

1. Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản.

2. Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất.

Điều 210. Sở hữu chung hợp nhất

1. Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó, phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung.

Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất không phân chia.

2. Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung.

>> Trường hợp này thì bạn phải xác định được nơi bố bạn ở đâu và nơi bố bạn mang sổ đỏ đi cắm. Sau khi xác định được rồi thì bạn có quyền khởi kiện ra tòa để yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

Khi tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì hai bên giao dịch sẽ có trách nhiệm trả lại những gì đã nhận của nhau: theo quy định của BLDS 2015

Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.

2. Bồi thường về đất nông nghiệp khi nhà nước thu hồi đất?

Xin chào luật sư! Ls cho tôi hỏi về việc bồi thừơng đất nông nghiêp với ah. Tôi có mảnh đất nằm trong giấy chứng nhận QSĐ nông nghiệp tôi có xây dựng lên công trình chuồng trại để chăn nuôi bây giờ nhà nước thu hồi làm khu tái đinh cư Ls cho tôi hỏi công trình chuồng trại tôi xây trên đó có đươc bồi thường theo quy đinh của nhà nước không ah! Rất mong đươc ls tư vấn. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Trường hợp của bạn sẽ được bồi thường theo quy định tại Luật đất đai 2013:

Điều 77. Bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định sau đây:

a) Diện tích đất nông nghiệp được bồi thường bao gồm diện tích trong hạn mức theo quy định tại Điều 129, Điều 130 của Luật này và diện tích đất do được nhận thừa kế;

b) Đối với diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức quy định tại Điều 129 của Luật này thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại;

c) Đối với diện tích đất nông nghiệp do nhận chuyển quyền sử dụng đất vượt hạn mức trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật này.

Ngoài ra, với công trình chuồng trại trên đất nông nghiệp của bạn cũng được bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 89 của Luật Đất đai 2013:

Điều 89. Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng trên đất khi Nhà nước thu hồi đất

1. Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi Nhà nước thu hồi đất phải tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì chủ sở hữu nhà ở, công trình đó được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương.

Trường hợp phần còn lại của nhà ở, công trình vẫn bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì bồi thường theo thiệt hại thực tế.

2. Đối với nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, khi Nhà nước thu hồi đất mà bị tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được bồi thường thiệt hại theo quy định của Chính phủ.

3. Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội gắn liền với đất đang sử dụng không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì mức bồi thường tính bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

3. Tư vấn tranh chấp đất đai?

chào luật sư. xin luật sư tư vấn giúp tôi trường hợp như sau: tôi sinh sống và phụ dưỡng ba mẹ tôi nên được ba mẹ tôi cho được 1ha đất canh tác.và tôi đã làm bằng phán( quyền sử dụng đất) nhưng gần đây các anh em khácxúi dục mẹ tôi đòi lại đất đai và trở nên tranh chấp cho nên tôi khiếu nại lên xã và huyện và có văn bản hòa giải là đất tranh chấp tuyên 2 bên không được quyền sang bán hay chuyển nhược thế nhưng anh tôi lại cho người vào cưa bỏ cây cối tôi đang trồng tôi ra ngăn cản thì bị hành hung tôi đã thông báo sự việc cho UBND xã và bên công an thế nhưng tình trạng trên vẫn tiếp diễn.xin luật sư cho tôi biết tôi nên làm thế nào để chấm dứt tranh chấp và lấy lại quyền sử dụng đất đấy.xin trân thành cảm ơn!

Trả lời:

Trường hợp của bạn thì nếu bạn đã được ba mẹ bạn tặng cho đất như vậy và bạn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi thì bạn hoàn toàn có quyền sử hữu mảnh đất này

Và theo quy định tại Luật đất đai các tranh chấp đất đai được giải quyết thông qua thương lương hòa giải, và nếu không giải quyết thì bạn sẽ gửi đến tòa án để được giải quyết.

Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

Trong trường hợp của bạn nếu anh bạn phá hoại tài sản của bạn thì bạn có thể tố giác anh bạn theo quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

Điều 178. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

1.107 Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

2.108 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

c) Tài sản là bảo vật quốc gia;

d) Dùng chất nguy hiểm về cháy, nổ hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Để che giấu tội phạm khác;

e) Vì lý do công vụ của người bị hại;

g) Tái phạm nguy hiểm,

3. Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

4. Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4. Tranh chấp bất động sản liền kề theo luật?

Sau 18 năm bị gia đình ông Đức bịt ngõ đi chung phải đi nhờ qua nhà hàng xóm, mới đây, ông Nguyễn Duy Năng và ông Nguyễn Trọng Thuỷ (số 11, ngõ 22b, làng Trung Tự cũ, phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội) được người hàng xóm thông báo: Chuẩn bị xây nhà bịt lối đi nhờ của hai gia đình…

Muốn ra khỏi nhà phải… trèo thang!

Cách đây gần 2 năm, VietNamNet đã từng đưa vụ việc Bị bịt cổng, 16 năm ra ngõ qua… sân hàng xóm phản ánh về tình trạng hai gia đình ôngNăng và ông Thuỷ bị bịt cổng đi chung mà chưa được các cơ quan chức năng giải quyết.

Từ đó đến nay, sự việc vẫn bị bỏ mặc, bất chấp gia đình ông Năng và ông Thuỷ vẫn thường xuyên có đơn kêu cứu lên các cơ quan chức năng.

Ngày 27/5/2009, ông Ngô Văn Nhiên, người đã cho hai gia đình ông Năng và ông Thuỷ đi nhờ suốt 19 năm qua thông báo chuẩn bị xây nhà bịt ngõ đi chung nên không thể cho 2 gia đình tiếp tục đi nhờ qua nhà.

Trước thông báo của ông Nhiên, ông Năng và ông Thuỷ không khỏi lo lắng vì nếu xây nhà bịt lối đi nhờ thì hai gia đình sẽ bị cô lập.

Trao đổi với PV VietNamNet, ông Năng và ông Thuỷ không khỏi bức xúc khi con ngõ đi chính (ngõ 22b) trước nhà mình đã bị gia đình ông Đức tự xưng là đất dòng họ tự ý xây bịt lại suốt 18 năm nay mà vẫn không được phường Phương Liên và quận Đống Đa giải quyết dứt điểm.

Tay cầm chiếc thang mới mua dựng ngay ở cổng nhà đã bị bịt suốt 18 năm qua, ông Thuỷ nói: “Nếu nhà ông Nhiên làm nhà hết đường đi nhờ thì không còn cách nào khác chúng tôi phải bắc thang qua cổng bị gia đình ông Đức xây bịt khi muốn ra khỏi nhà”.

Hiện tại, hai gia đình ông Năng, ông Thuỷ có 9 người cùng sinh sống trong hai căn hộ bị bịt ngõ, nhưng có 4 người già yếu nên việc trèo thang ra ngoài hết sức khó khăn.

“Người bình thường ra ngoài bằng thang còn khó huống gì là người già ốm bị tai biến mạch máu não như tôi. Nếu không được chính quyền giải quyết mở thông ngõ đi chung thì chắc tôi không thể ra khỏi nhà được!”, ông Năng than phiền.

Với bà Ngô Thị Minh, vợ của ông Thuỷ thì nỗi lo còn đáng ngại hơn nhiều. Bà Minh bảo: “Từ lâu, mấy hộ dân ngõ 22b vẫn tự xưng đây là đường của dòng họ nhà mình, cho dù các thông báo, trả lời của quận Đống Đa và thành phố đều khẳng định đây là ngõ đi chung do Nhà nước quản lý. Không có đường phải trèo thang đã khổ rồi, nhưng không biết, khi trèo thang đi vào đường anh em dòng họ ông Đức có gây khó dễ gì không?”.

Trên chỉ đạo, phường phớt lờ?

Cho tới thời điểm này, dù đã có rất nhiều thông báo, quyết định của UBND quận Đống Đa và thành phố Hà Nội khẳng định ngõ 22b là ngõ công do Nhà nước quản lý, nhưng con ngõ đi chính vào nhà ông Năng và ông Thuỷ vẫn bị bịt kín.

Trước đó, ngày 14/6/2007, UBND quận Đống Đa có Thông báo số 45/TB-UBND đề nghị: UBND phường Phương Liên tổ chức lực lượng tháo dỡ bức tường và cửa sắt xây dựng không phép ngăn nhà ông Nguyễn Duy Năng và ngõ 22b, xong trước ngày 30/7/2007.

UBND quận Đống Đa từng có văn bản số 625/CVUB-XDĐT, ngày 12/10/2007 gửi Bộ Xây dựng xin ý kiến về việc mở ngõ đi liên quan đến gia đình ông Năng, ông Thuỷ. Sau đó, Bộ Xây dựng có trả lời: “Hiện nay không có quy định nào cấm người dân không được mở cửa đi ra ngõ công cộng…”.

Ngày 27/8/2007, đích thân Quận uỷ Đống Đa đứng ra tổ chức cuộc họp và ra thông báo số 69 – TB/QU giao nhiệm vụ cho Đảng uỷ phường Phương Liên lãnh đạo thực hiện nghiêm túc nội dung chỉ đạo của Thường trực Quận uỷ, UBND quận giải quyết vụ việc tại Thông báo số 46/TB – UBN, ngày 14/6/2007, thời gian hoàn thành trước ngày 20/9/2007… Nếu không giải quyết dứt điểm, Quận uỷ, UBND quận sẽ xem xét trách nhiệm tập thể và cá nhân đứng đầu cấp uỷ, chính quyền phường Phương Liên.

Thế nhưng, bức tường ngăn tại ngõ đi chung 22b vẫn không được phường Phương Liên tháo dỡ.

Mới đây, ngày 14/1/2009, trong Quyết định số 222/QĐ- UBND Thành phố do Phó Chủ tịch Vũ Hồng Khanh ký một lần nữa khẳng định: “Ngõ đi tại tổ 22b phường Phương Liên thuộc thửa số 189, diện tích 135,4m2, tờ bản đồ 6H-I-39 là ngõ đi chung đã được UBND phường Phương Liên quản lý… Việc ông Nguyễn Văn Mần (một trong số hộ dân xây tường bịt ngõ) khiếu nại việc thành phố bàn giao đất công, đất chưa sử dụng cho UBND phường Phương Liên quản lý (trong đó có diện tích ngõ đi tại tổ 22b) là không có cơ sở…”.

Ngày 6/5/2009, HĐND thành phố Hà Nội có công văn số 142 đề nghị Chủ tịch UBND quận Đống Đa khẩn trương chỉ đạo giải quyết vụ việc, báo cáo kết quả tới Thường trực HĐND Thành phố trước ngày 20/5/2009 và trả lời người có đơn.

Sự việc đã rất rõ ràng, nhưng chẳng hiểu vì lý do gì UBND quận Đống Đa không giải quyết dứt điểm để gia đình ông Năng, ông Thuỷ có lối đi.

>> Tham khảo thêm nội dung: Hướng dẫn thủ tục hiến đất để làm lối đi chung ?

5. Khởi kiện tranh chấp ngõ đi chung với chú ruột?

Xin chào Luật Minh Khuê, Tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Từ khi bố mẹ tôi kết hôn,ông bà nội tôi cho bố mẹ tôi 1 lô đất để ở và cho kèm là cổng (hay gọi là ngõ liên gia). Hiện lô đất của bố mẹ tôi đã được cấp sổ đỏ. Sơ đồ được vẽ trên sổ đỏ không vẽ chi tiết cổng của bố mẹ tôi mà chỉ được vẽ trên bản đồ của bản địa chính. Vậy xin các luật sư cho tôi hỏi hiện bố tôi đã mất chỉ còn mẹ tôi, em chú của bố tôi đòi xây kín cổng không cho gia đình tôi tiếp tục đi thì gia đình tôi có được phép khởi kiện không?
Gia đình tôi xin chân thành cám ơn!

Người gửi: Mạnh Hùng

>> Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục hỏi đáp của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được giải đáp như sau:

Trước hết, bạn cần xin cấp trích lục thông tin, bản đồ, hồ sơ địa chính về khu đất của bạn. Bạn sẽ tiến hành nộp văn bản hoặc phiếu yêu cầu cung cấp dữ liệu đất đai tại Văn phòng đăng ký đất đai địa phương theo quy định của Thông tư 34/2014/TT-BTNMT. Trường hợp họ từ chối cung cấp thì phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do từ chối.

Vì trong bản đồ địa chính như bạn nói có thể hiện lối đi chung. Do đó bạn có thể làm thủ tục đăng ký biến động xin điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tức là trên giấy chứng nhận điều chỉnh thể hiện lối đi. Bạn sẽ nộp hồ sơ đăng ký biến động tại Văn phòng đăng ký đất đai theo quy định tại Điều 85 Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật đất đai 2013.

Sau khi đã điều chỉnh rồi, bạn có thể đề nghị chú của bạn phá bỏ cổng để gia đình bạn có lối đi chung. Trường hợp hai bên không thể giải quyết được:

Theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai 2013, khi hai bên không thể thỏa hiệp được sẽ yêu cầu giải quyết tranh chấp thông qua tổ hòa giải cấp cơ sở

- Nếu các bên không thể hòa giải được tại cơ sở thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp để yêu cầu giải quyết. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

-Nếu đã gửi đơn tới Ủy ban nhân dân xã mà các bên không hòa giải được thì có hai phương án giải quyết : khởi kiện tại Tòa án hoặc yêu cầu cơ quan hành chính nhà nước giải quyết theo quy định tại Điều 203 Luật đát đai 2013.

- Khởi kiện tại tòa án: tòa án chỉ giải quyết các tranh chấp đất đai mà đương sự đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có nhưng đang sử dụng đất ổn định được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ được quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013.

-Yêu cầu cơ quan hành chính giải quyết: theo quy định điểm a khoản 3 Điều 203 Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết đối với tranh chấp giữa các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư. Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung giải quyết. Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Mọi vướng mắc pháp lý phát sinh trong lĩnh vực đất đai vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được tư vấn, giải đáp nhanh nhất.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê